Ce portfolio se veut un objet de recherche et de découverte, un lieu de partage et d’échanges entre «alter» et «ego». Tous les commentaires seront donc les bienvenus, et j’en remercie par avance leurs auteurs.

«Sẽ có một ngày trên hành trình đến với những cánh đồng Abydos của Osiris dương trần tục luỵ em bỏ lại đàng sau cả những thân sơ giận thương yêu ghét...»


Chers collègues,


Après une assez longue période de tâtonnements, voici enfin le fruit de mes efforts continus.

J’ai le grand plaisir de mettre à votre disposition un e-portfolio que j’ai conçu comme outil d’accompagnement à mon auto-formation, et en tant qu’enseignante-chercheur-formateur (ou ... chercheuse-formatrice ?), ceci dans le but de favoriser des échanges et contacts avec des collègues d’ici et d’ailleurs.

J’aurais aimé un outil plus approprié (pour plus de facilité dans la conception et dans la lecture), mais je n’en ai pas trouvé. Je compte donc sur votre compréhension.

Si les jeunes collègues y trouvent quelque utilité pour leurs réflexions, ou pour alimenter et enrichir leur vécu professionnel, ce sera à ma très grande joie, et j’en serai bien honorée.

Je compte aussi sur vos remarques, suggestions et propositions (qui seront ajoutées en fin de chaque article ou en bas de la page) pour pouvoir améliorer cet outil. Vous pourriez de même me les communiquer par email (phamthi.anhnga@yahoo.fr).

Avec mes sincères remerciements,

Et Bonne Année du Buffle !


Anh Nga

dimanche 14 novembre 2010

Anh Nga - NHẬT NGUYỆT DẤU YÊU (Đặng Tiến)


Nhật Nguyệt Dấu Yêu là một mùa hoa trái trễ tràng, tập thơ đầu tay được tác giả gửi đến người đọc như một ủy thác, sau khi đã trải nghiệm cuộc đời, thực tế và văn học. Phạm thị Anh Nga là nhà giáo chuyên về ngữ học, nắm vững quy luật ngôn ngữ và văn học, khi cho ấn hành tác phẩm muộn màng, ắt cũng đã so đo:


Chẳng phải thơ đâu anh

chỉ là những cảm xúc

tức bờ

vỡ nhòa lên giấy


Lời tâm sự chân tình, từ tốn, chứng tỏ tác giả nắm vững kỹ thuật ngôn ngữ thơ hiện đại, cả ba mặt từ pháp, bút pháp và âm pháp.


Tập thơ ngắn nhưng mang quá trình một con sông dài, dài suýt soát với cuộc sống: khởi hành từ những vần điệu đầu tiên, mới mẻ nhưng vẫn còn trong phạm trù thơ quen thuộc:


Ngọn gió đi qua

làm rớt cái hôn mà không biết

em nhặt về

gói ghém

gởi cho ai

(Bé bỏng, 1988)


Hình ảnh, điệu thơ tình tứ, nghịch ngợm, trẻ trung. Bài thứ hai, tiếp theo, thiết tha hơn, nhưng vẫn cùng một phong cách:


Nước mắt

là cái thước đo hờn dỗi

mỗi lúc giận anh

(Em khóc, 1988)


Một bài thơ khác, tài hoa, tân kỳ, dặt dìu nữ tính:


ai tung bụi nắng

vào cỏ non xưa

em thiếu nữ


em nhặt nhạnh đến một đời

chưa tài nào gom đủ

dấu thu phai


ai gieo hò hẹn

vào thơ ngây

em một thuở


và mù tăm

mù tăm

mù tăm


(Dấu lặng)


Thơ Anh Nga khơi dòng bằng những dạo khúc trong sáng, thắm tươi như tiếng chim chào đón bình minh ; rồi có lúc quặn thắt buồn đau:


Ngôi nhà phế tích

chôn kín một góc hồn một góc tim một góc đời

khóa trái đến nghìn sau

những mùa xa xăm đã khép

có phải không gian vẫn đây mà thời gian thì đã vùi bụi cát

ôi ngôi nhà ký ức

rồi em sẽ ghé về thăm

thu dọn những ngóc ngách bộn bề

nhẩm ôn những mảnh đời vụn vỡ

rưng rưng một nỗi niềm xưa

(Ngôi nhà không ngõ phố)


Thơ Anh Nga thường là tỉnh táo. Nhưng thỉnh thoảng cũng lảo đảo đắm say, như bài thơ làm tựa đề cho cả thi phẩm Nhật Nguyệt Dấu Yêu:


Trong nhiệm mầu tiết xuân

trời đất giao hoan

không gian thời gian quấn quýt

chìm lĩm trong nhau

(...)

nhẹ nhàng nhưng hút sâu

ngọt ngào mà xoáy xoay vũ bão

tình dại tê trong đắm say huyền thoại

vẫn đời thường mà quá đỗi diệu kỳ

ta tan ra trong nhau

tỉnh tỉnh mê mê

còn đâu bến bờ hư thực


Lời thơ cuồng nhiệt chứng tỏ Anh Nga có khả năng sử dụng ngôn ngữ thơ trên nhiều cung bậc. Nói rộng ra, là chị có tâm hồn thơ, tư duy thơ, có xúc cảm nghệ thuật và sử dụng thi pháp nhuần nhuyễn theo phong cách hiện đại.


Tuy nhiên đến một lúc nào đó, Anh Nga không còn xem thơ như một nghệ thuật, một ngôn ngữ điệu nghệ - dù rằng mình đủ «tay nghề». Thói thường, người đời vẫn xem thơ như lời nói khéo, giàu âm điệu. Một giọt ngọt ngào nhểu vào cuộc sống. Anh Nga, đến giai đoạn nào đó, không còn vui với trò chơi, dù là trò chơi nghệ thuật được xã hội đề cao. Anh Nga hết ham «làm thơ» mà muốn «sống thơ» - đưa cuộc sống vào thơ, thay vì đem thơ vào đời sống, làm một thứ vỗ về, tô điểm.


Đã làm thơ thì ai cũng muốn làm nên câu thơ hay, nghĩa là sắp xếp, lắp ghép lời nói thành vần điệu, càng hay càng tốt. Nhưng hay là hay với người khác, còn với chính bản thân mình thì sao? Trong bài Giải trình ở cuối sách, Anh Nga đã bộc bạch:


«Có lẽ những gì tôi viết (…) chỉ là những mẩu đối thoại của tôi với chính bản thân mình. Để ghi nhận, tự nhắn nhủ và nhắc với chính mình những lay động, cảm xúc đã sống, vào một lúc, một nơi…».


Lối độc thoại bắt đầu rõ âm vực với những bài Không tên, những lời nói với con, với người anh xa xứ, với người bạn quá cố. Đặc biệt là với người em trai đột ngột qua đời khi tuổi còn rất trẻ:


Có lẽ suốt đời em đắm say toán học

nên khi lìa bỏ dương gian em dứt khoát rạch ròi

chóng vánh đến không kịp một lời trăng trối

(Minh ơi, 2004)


Hay với người cha, nhân ngày giỗ:


Mười lăm năm Ba nằm dưới huyệt lạnh

(…)

Rồi năm tháng tiếp liền năm tháng

những cái tang khác liên tục dội xuống những mảnh đời bất hạnh của chúng con

bất ngờ và nghiệt ngã

nước mắt đến cạn kiệt héo khô

trong đớn đau khôn cùng

dường như vọng từ cõi âm lời hóa giải cho những oán giận thù hằn dương thế…

(Mười lăm năm, 2009)


Đây là những chuyện thật trong đời tác giả, những chấn thương sâu sắc, được giãi bày bằng lối tự sự chân thành và thô tháp so với những trường phái thơ đang thịnh hành, và ngay với những bài thơ trước của tác giả. Vậy nó có giá trị gì về mặt văn học và nằm ở vị trí nào trong lý thuyết thi ca?


Anh Nga là người uyên bác về văn học và ngữ học, là người sáng suốt, trầm tĩnh, đắn đo nhiều trước khi xuất bản một thi tập muộn màng. Văn bản trần trụi đầy xúc cảm buộc chúng ta phải đặt lại vấn đề: cái gì là thơ? Phải chăng thơ là những mảnh đời được cảm nhận là thơ? Khi ta cảm nhận một văn bản, hay một mảnh sống, là thơ, thì nó là bài thơ? Thi tập Nhật Nguyệt Dấu Yêu làm cơ sở cho lý thuyết mới?


Những bài thơ đầu tập, rất bài bản, khác hẳn với những văn bản cuối tập, thô tháp, prosaïque, nhưng không mâu thuẫn trong ý thức của tác giả:


«tôi chỉ dám mượn vần điệu của thơ, ngôn ngữ thơ để gửi gắm lên giấy những cảm xúc trong từng khoảnh khắc sống của mình. Những cảm xúc vụt lóe lên một tích tắc nào đó, có khi đậm nét, sáng rõ, có lúc nhập nhòe, lẫn lộn, (…) ẩn hiện chập chờn. Những cảm xúc không kết thành một khối, mà như những mảnh vụn, là mùn cưa, dăm bào, lấm tấm, rải rác, đậm nhạt không đều, vô cùng rối rắm».


Lời cuối bài Giải trình cuối sách, tác giả đã từ tốn, dè dặt: «những gì tôi viết, dù có là thơ hay không là thơ…».


Chúng ta có thể trả lời chị, bình thản và dứt khoát: nó là thơ. Thơ xê dịch từ diễn ngôn cách điệu đến những mảng sống, mảnh tâm sự nguyên chất. Chất men gắn bó những viên gạch rời ấy là lòng chân thành của Anh Nga. Chân thành với văn học và với bản thân.


Người đọc có thể xem Nhật Nguyệt Dấu Yêu, như lời người xưa, là của tin gọi một chút này làm ghi.


Đặng Tiến

Orleans, 11-11-2010

1 commentaire:

  1. Toi mong som nhan duoc tap tho cua Anh Nga. Dung la bia rat dep, trang nha lai co tinh tho. Bai Dang Tien binh luan dung la hop voi tam tinh Anh Nga, nhung gi viet ra co phai la tho hay khong? Dang Tien to ra rat hieu Anh Nga, dung tu dich dang lam. Toi nghi Anh Nga la mot thi nhan tham lang, mot hoc gia thu minh lai voi thoi the. Con ve tinh tho, la poetique cua nhung gi Anh Nga viet ra,toi lay tieu chuan cua Valery de xet doan: La poesie, c'est l'hesitation entre le son et le sens.
    Tho Anh Nga dung la mot hesitation... vay do!

    RépondreSupprimer

Jeanne d'Arc 1960-1973

Jeanne d'Arc 1960-1973
classes de 7e et 8e

classe de 4e

ENS de Hue 1973-1977

ENS de Hue 1973-1977
4e année

Université de Rouen 1996-1997

Université de Rouen 1996-1997
salle de documentation DESCILAC - le 9 janvier 1997

dernier cours de méthodologie 1997

Université de Rouen 1999-2000

Université de Rouen 1999-2000
soutenance de thèse

avec Anh Hai

... et les copains copines

ENS de Hue 2003-2004

ENS de Hue 2003-2004

Université d'Hélouan - Égypte 2004

Université d'Hélouan - Égypte 2004

Bangkok 2006

Bangkok 2006

ESLE de Hue 2006-2007

ESLE de Hue 2006-2007

Siem Reap 2007

Siem Reap 2007
anciens Rouennais

chez Minh 2008

chez Minh 2008

Pagode Từ Lâm (Hué) 2008

Pagode Từ Lâm (Hué) 2008

Vientiane 2008

Vientiane 2008
Avenue Lane Xang

Université Nationale du Laos

Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) 2008

Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) 2008

đăng quang 2008

đăng quang 2008

kỷ sửu 2009

kỷ sửu 2009
đền huyền trân

trúc lâm thiền viện

chez phan thuận an 2009

chez phan thuận an 2009

dans le soleil et dans le vent

thả thơ 2009

thả thơ 2009
trên sông Hương

tiến vào chung kết

Fai Fo 2009

Fai Fo 2009

canh dần 2010

canh dần 2010
chùa Từ Lâm

phật tử Quảng Viên

phật tử Quảng Viên
chùa Tịnh Giác

Huý nhật lần 7 của em Minh (5.10.2011 - 9.9 ÂL)

Huý nhật lần 7 của em Minh (5.10.2011 - 9.9 ÂL)
Nam-Nga Tuấn-Hà Phượng Chôm Bư Nin Hề + Tùng Tú