Ce portfolio se veut un objet de recherche et de découverte, un lieu de partage et d’échanges entre « alter » et « ego ». Tous les commentaires seront donc les bienvenus. J’en remercie par avance leurs auteurs.

« Sẽ có một ngày trên hành trình đến với những cánh đồng Abydos của Osiris dương trần tục luỵ em bỏ lại đàng sau cả những thân sơ giận thương yêu ghét... »


Chers collègues,


Après une assez longue période de tâtonnements, voici enfin le fruit de mes efforts continus.

J’ai le grand plaisir de mettre à votre disposition un e-portfolio que j’ai conçu comme outil d’accompagnement à mon auto-formation, et en tant qu’enseignante-chercheur-formateur (ou ... chercheuse-formatrice ?), ceci dans le but de favoriser des échanges et contacts avec des collègues d’ici et d’ailleurs.

J’aurais aimé un outil plus approprié (pour plus de facilité dans la conception et dans la lecture), mais je n’en ai pas trouvé. Je compte donc sur votre compréhension.

Si les jeunes collègues y trouvent quelque utilité pour leurs réflexions, ou pour alimenter et enrichir leur vécu professionnel, ce sera à ma très grande joie, et j’en serai bien honorée.

Je compte aussi sur vos remarques, suggestions et propositions (qui seront ajoutées en fin de chaque article ou en bas de la page) pour pouvoir améliorer cet outil. Vous pourriez de même me les communiquer par email (phamthi.anhnga@yahoo.fr).

Avec mes sincères remerciements,

Et Bonne Année du Buffle !


Anh Nga

lundi 1 septembre 2008

Chợt một chiều tóc trắng



15.12.2002

Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

Trong sân nhà hoạ sĩ Bửu Chỉ sáng nay, tôi đúng là một con người như thế, trong lúc từng đoàn người ôm những vòng hoa lần lượt vào thắp hương trước linh cữu anh. Đoàn của Phong trào đô thị Huế - Đà Nẵng, của Tuyên huấn Tỉnh... Tôi không nhập vào đoàn nào, mà đứng tần ngần ở một góc sân. Nén hương cần thắp cho anh, tôi đã thắp từ sớm.

Trong nỗi đau mất anh hôm nay, tôi cảm thấy mình chẳng giống ai. Không là đồng chí, đồng nghiệp, không phải đại diện cho chính quyền, đoàn thể, tổ chức. Không là gì hết thảy. Nhưng khi những hạt nước mắt thực sự ứa ra, trào ra không gì ngăn nổi, đâu cần phải là "cái gì", là "ai". Và anh Chỉ ơi, vẫn còn quá nhiều điều chưa kịp nói.

Tin anh bệnh tôi nhận được sáng thứ sáu 13/12. Tiếng anh Nguyễn Thanh Văn điện thoại từ Sài gòn ra như nhoà đi: "Có tin gì thêm về Bửu Chỉ không?... Sao, Nam Nga chưa biết gì à? Anh BC bị đột quỵ, đã mang vào bệnh viện cấp cứu... Có tin gì thêm, nhớ báo cho mình..."

Ở Phnom Pênh về, suốt cả tuần lễ tôi bị cuốn theo việc tổ chức bảo vệ luận văn Cao học. Hai đề tài phản biện phải đọc cho xong và viết nhận xét, cộng với ba đề tài hướng dẫn cũng phải đọc lại và viết nhận xét về quá trình thực hiện đề tài. Và những buổi lên lớp trong tuần không bỏ được. Chạy đua với thời gian, vật vã níu kéo thời gian, từng giây từng phút, mong kịp thời xong xuôi mọi việc. Tất tả, nhọc nhằn, như hình ảnh con người gầy guộc, khắc khổ trong những bức tranh của anh, đang tay níu thời gian...

Vẫn là ngày 13/12. Anh Nam đi Đà Nẵng từ sáng, chiều mai mới về, không liên lạc được. Tôi điện thoại về nhà anh BC, xin gặp chị Vi. "Cả ba mẹ con lên nhà thương rồi, ở hẳn trên nớ... Không biết bệnh tình Chỉ ra răng... Bữa nớ Chỉ bị lạnh, khó thở, chắc là vì suyển... Tui là người giữ nhà..."
Chặp tối, anh Nam điện thoại về, sửng sốt với tin dữ. "Tối mai thứ bảy anh mới về đến nhà, sáng chủ nhật tụi mình sẽ đi thăm anh BC".

Tối thứ sáu 13/12, tôi thức gần như thâu đêm, đến bốn giờ sáng mới xong các bài nhận xét luận văn, và chỉ còn hai giờ đồng hồ ngủ lấy sức để ngày hôm sau, thứ bảy 14/12, thức dậy lúc sáu giờ sáng, và suốt ngày dành cho việc bảo vệ luận văn Cao học.

Trưa 14/12, tôi tạt về nhà, nhận e-mail của anh Đặng Tiến gửi từ Orléans: "Tình trạng Bửu Chỉ mỗi lúc một nguy kịch, đang bị truỵ tim mạch và đi vào hôn mê sâu, coma profond. Theo tin tức BS Sinh, đang theo dõi bệnh trạng."

Chiều tối, trong buổi họp Hội đồng để điều phối điểm chấm luận văn, một thành viên có việc riêng ra ngoài một lúc, trở vào báo: "Cô Nga ơi, em nghe tin ông Bửu Chỉ mất rồi".

Trước mắt tôi vẫn là những con số, cộng lại và chia ra là điểm chính thức đánh giá công lao những tháng năm dùi mài đèn sách của tám con người. Nhưng những con số đã nhoè đi. Tôi mím môi, quệt nước mắt. Những con số lại nhoè đi. Những khuôn mặt quanh tôi cũng nhoè đi... Không ai trách tôi, dù chỉ một lời.

Tôi mượn điện thoại di động, gọi về nhà. Anh Nam vừa về đến cổng. "Anh kiểm chứng xem tin ấy có đúng không. Em chỉ mong đó là tin thất thiệt..."

Nhưng không, anh Chỉ mất thật rồi. Xong xuôi mọi việc, tôi về nhà. Anh Nam vùi mình trong chăn, đang cơn sốt, xác nhận tin trên.

Tại sao lại thế. Anh Chỉ ơi, sao lại thế...

Anh Nam bảo tôi mở e-mail, báo tin cho bạn bè ở xa biết. "Chắc không cần, tôi nói. Có lẽ ai cũng biết tin rồi." Tôi để nguyên áo dài đang mặc, ngồi khóc.

Mở e-mail, vẫn chưa thấy ai động tĩnh gì. Tôi viết vài câu báo tin, kèm với bức tranh "Tĩnh vật. Cầu hồn" của anh Chỉ. Nhưng chép file ảnh mãi không được, đến khi chép được thì thư không chạy. Nhiều lần vẫn thế. Tôi gửi lại thư, lần này không kèm ảnh. Bấm "Send and receive". Thư đi song suốt. Kiểm tra thử, nó đã vào "Sent Items".

Anh Chỉ ơi, em hiểu rồi, anh không bằng lòng cho gửi bức tranh đó đi. Bức tranh mà ngay từ phút đầu nhìn thấy nó em đã hoàn toàn bị mê hoặc. Những chiếc đèn dầu xếp hàng như lặng lẽ dẫn dắt lối về cõi âm, ù lì trước lệnh gửi, chỉ vì anh không đồng ý. Nhưng sao vậy hở anh? Câu hỏi cứ đeo đuổi em. Mãi đến sáng hôm sau, chủ nhật 15/12, bên linh cữu của anh, khi khách đến viếng vẫn còn rất thưa thớt, nghe chị Vi kể về những ngày cuối của anh, thì em hiểu. "Sáng thứ tư, anh Chỉ đi uống cà phê với Nguyễn Hữu Ngô. Trời lạnh lắm. Một lúc sau anh về, than lạnh. Anh nói với Vi, hiền từ: 'Mình lạnh quá '. Anh đòi lấy sấy tóc của Vi để sưởi ấm hai chân. 'Vẫn không làm mạnh được, không làm mạnh được, bậy quá', anh nói... Anh mệt và khó thở, nhưng nói chuyện đi nhà thương là cứ giẩy nẩy. Mãi đến hôm sau, anh mới chịu đi, nhưng nhất định 'Me phải đi theo Ba...'."

Chỉ là một chuyến rong chơi thôi, đâu phải đi vào cõi chết, nên việc gì lại "cầu hồn", phải vậy không anh Chỉ? Và trong cuộc rong chơi đó, anh cần có Tường Vi, người bạn đời thân yêu, hiền từ, chung thuỷ, cái bóng êm ái dịu dàng của anh, đi với anh, bên anh, cho đến phút tận cùng có thể, giới hạn cuối cùng được phép, giữa hai cõi âm và dương.

16.12.2002

Buổi chiều, dạy xong hai tiết đầu, tôi có hẹn với anh Nam để cùng đi nhận các vòng hoa đã đặt sẵn, thay cho một số bạn bè, thân hữu của anh BC, hiện ở xa. Ở cửa hàng hoa quen đường Phan đăng Lưu, có biết bao là vòng hoa có cùng một địa chỉ đến, là ngôi nhà số 279 Nguyễn Sinh Cung.

Những vòng hoa, những lẵng hoa đã bắt đầu tràn ngập bên linh cữu anh, trong nhà, ngoài hiên, ngoài sân. Những tấm lòng bè bạn gần xa. Và cũng bên linh cữu, bức chân dung tự hoạ của anh, hai khuôn mặt với nét mày chau, bờ môi mím. Như thể hồn anh đã thoát ra khỏi cái vỏ vật chất bấy lâu vẫn dung chứa nó, để đậu lên đó, lặng lẽ, khinh bạc nhìn chiếc áo quan bọc kín cơ thể đã bắt đầu lạnh, trái tim đã ngừng nhịp đập của mình. Từ bức chân dung, anh lặng ngắm chung quanh, đăm đăm, ngạo nghễ, không một lời. Nhưng anh đã nhìn thấu hết. Sự Sống và Sự Chết có bao giờ gần nhau đến thế đâu. Ở gian phòng bên, bức tranh "Làm xiếc" ngoái nhìn ra, tựa một cái nhếch mép, một cái nheo mắt ngấm ngầm của anh.

Chợt nhớ buổi chiều nào, trước hiên nhà, anh hào hứng khui chai Saint Rémy để nhâm nhi với bạn bè, dịp anh Miên Đức Thắng về thăm Huế. Đó là vào tháng năm 2002, sau khi anh ở Sài gòn về, và festival Huế đã bế mạc. Hôm đó bạn bè không đông như hôm nay, nhưng họ đã vui hơn, hồn nhiên hơn, rộn ràng hơn, và anh cũng đã vui hơn. Anh đã say sưa hát, hào hứng chia sẻ với chúng tôi những hồi tưởng của mình. Chị Vi lăng xăng khi thì ngồi, khi thì vào trong nhà, bưng ra thêm đĩa bánh ướt, bánh nậm, đĩa tré, chén nước mắm, hai cái cốc lấm tấm những vệt tròn xanh đỏ ("... cho Nga và Vi uống vang đỏ, nhẹ hơn Saint Rémy...")...

Hôm đó, anh bắt tôi ký tên vào cuốn sách nhỏ đầu tay tôi vừa xuất bản, để đề tặng anh, cuốn sách được anh ưu ái cho phép minh hoạ bằng những bức tranh của anh. Anh vui vẻ, thích thú với những trang in màu các bức tranh, đằm thắm nằm xen kẽ giữa những trang sách có nội dung anh cho là "lạ", là hay. Hôm anh đồng ý cho tôi dùng những bức tranh đó, anh đã không chút chần chừ, toan tính, kỳ kèo. Anh đã hoàn toàn thoải mái, cởi mở, hào phóng. "Nam Nga muốn lấy bức mô cũng được..."

Tôi đã rời cuộc vui sớm hơn những người khác, để về nhà lo cơm nước cho các con. Anh Chỉ nhắc chị Vi cột cho tôi một túm vải. "Vải nhà thôi, nhưng ngon. Về ăn cho vui...", anh nói, khi chị Vi cười hiền hoà đưa cho tôi túm vải.

Lúc anh Nam về đến nhà, tôi càng cảm động khi anh Nam vừa kể vừa xuýt xoa: "Anh Chỉ tội lắm. Cứ dặn đi dặn lại anh về phải lo chăm sóc mắt cho em. Anh Chỉ nói, để vậy về lâu về dài không hay...". Anh Chỉ ơi, anh đúng là một ngưởi anh ân cần, chu đáo. Có thể với ai đâu thì anh giận dữ, quát tháo, nhưng tụi em sao được anh ưu ái thế. Em vẫn chưa hết run, vừa mừng vừa run, những ngày anh em chuẩn bị in tập bưu ảnh tranh của anh, khi anh điện thoại lên nhà, hỏi ý kiến về cách dịch sang tiếng Pháp tên các bức tranh của anh. Tại sao lại có sự tin cậy đến nhường ấy? Bản thân anh rất giỏi, rất sâu sắc về những từ ngữ tinh tế nhất trong tiếng Pháp, và bên cạnh anh còn có biết bao cây cổ thụ của làng Pháp văn ở Huế: thầy Bửu Ý, anh Bửu Văn... Em chỉ đáng là học trò của họ, thật sự đã là học trò... Em run, lúng túng, khi anh hỏi han qua điện thoại: "Anh cứ nghĩ "Trăng thiên cổ" phải dịch là "Lune d'antan". Nhưng rồi nghĩ lại, thì thấy hay là dịch lthành "Lune de l'éternelle réminiscence" hè, chắc rứa thì đúng hơn, nghe hợp lý hơn. Nga nghĩ răng...", "Coi lại giùm anh bản dịch tiếng Pháp cái tiểu sử để in ở trang bìa." Hồi đó, anh điện thoại, e-mail cho tôi và anh Nam nhiều lần trong ngày, khi thì bàn về nội dung, cách trình bày, cách dịch... tên tranh hay lời giới thiệu, khi thì dặn dò về "co" chữ cho từng hàng ...

Tập bưu ảnh tranh nay đã in xong. Còn album của anh thì vẫn chưa kịp xuất bản. Nhưng anh Chỉ ơi, đừng bận lòng, hãy cứ thảnh thơi ở nơi anh đến. Anh đã thoát khỏi luỵ trần rồi, tội tình gì phải băn khoăn những việc của trần thế. Hãy dể cho những người ở lại làm nốt những điều anh chưa kịp hoàn tất trước khi rời bỏ cuộc chơi.

Tháng 1.2003

Đã gần một tháng người hoạ sĩ thân mến không còn phải băn khoăn, quằn quại vì tâm tưởng bị giằng co giữa sự sống và sự chết. Cái chết đã thực sự và vĩnh viễn mang anh đi.

Ngày gia đình và bạn bè tề tựu đưa anh rời ngôi nhà ở Vỹ Dạ để lên nằm trên khu đất ở Ba Đồn, từ nơi xa anh Đinh Cường nhờ anh Nam và tôi gửi ảnh tang lễ sang, vì không thể về tiễn bạn. Trong buổi sáng truy điệu cũng như buổi chiều tang lễ, tôi loay hoay với cái máy ảnh, mà nước mắt thì cứ ứa ra không ngăn nổi. Tôi đã vừa quệt nước mắt, vừa nắm vạt áo dài cho khỏi vướng vào những người chung quanh, đi quanh bấm máy. Có lẽ chẳng ai hiểu tôi là ai, là người trong gia đình hay thợ chụp ảnh.

Phút cuối bên huyệt mộ vừa lấp kín, tiếng chị Vi thảng thốt khi cắm nén hương cho anh Chỉ : "Anh Chỉ ơi, anh chết thiệt rồi." Nước mắt tôi như trôi ngược vào hốc mắt, đau nhói.

Những bức ảnh tang lễ được gửi đi sớm sủa, bởi những người bạn thân yêu của anh Chỉ nơi xa đang hết lòng mong ngóng. Cả những bài báo, những tin tức về chị Vi, các cháu Phương, Quang, Minh...

Tháng 3.2003

Thư e-mail của anh Đinh Cường gửi về gần như mỗi ngày, ban đầu còn uất nghẹn, đau đớn, tưởng không gì cứu vãn nỗi. "Tôi buồn xơ cứng cả đầu óc" (ngày 15/12), "BC đã nằm trong quan tài rồi. Tôi như sửng từ hai ba hôm nay, không làm gì được. Thương bạn mà xa xôi, nói gì cũng không thấu" (16/12), "...Mà lòng buồn quá như bị hẫng đi" (17/12), "...nhìn ảnh tôi và Chỉ hồi năm ngoái mà ứa nước mắt. Mới đây nữa, Saigon..." (20/12). Rồi những tâm sự pha lẫn với hồi ức ngày càng trầm tĩnh, lắng đọng hơn với nỗi đau chập chờn : "miếng băng tang, giữ giùm tôi, hè tôi về lên thăm mộ Chỉ sẽ nhận" (21/12), "Tôi cứ ngồi sửng bên computer, sáng sớm mai ngủ dậy, giờ đó có @ BC gởi, đều đặn cả tháng qua. Chỉ chấm dứt vào ngày 10... Nhờ Nam Nga mà Đặng Tiến ở Pháp, tôi ở Mỹ theo dõi đầy đủ bài viết, ảnh đám tang. Không có gì cảm động bằng tấm lòng bạn dành cho những người bạn BC ở xa, đau thắt ruột mà không về được trong những ngày tang lễ. BC luôn hiểu và thương bạn. Tánh khó, nhưng đã là bạn thiết thì sống trải hết lòng với nhau. Tôi quý và thương Chỉ cũng như Vy và mấy cháu vô cùng" (21/12), "Tôi vẫn thầm tụng kinh cho Chỉ như từng nỗi cô đơn của tôi nơi này. Cuối năm tuyết lạnh" (28/12), "Nhớ và thương tiếc BC, không làm gì được những ngày cuối năm. Buồn như dao cắt" (29/12), "Tôi vẫn còn ngồi thẩn thờ nhớ BC, chưa làm gì lại được. Mùa Đông buồn bã nhất xa bạn" (1/1), "Nhớ Huế và nhớ Vỹ Dạ của BC mà giờ đây bạn đã đi xa 17 ngày rồi"... Gần ba tuần sau khi anh Chỉ ra đi, người bạn chí cốt Đinh Cường vẫn còn chìm trong nuối tiếc và chưa vẽ vời gì được : "Tôi chưa đụng tới cây cọ được nữa sau nhát cọ cuối cùng trên tấm tranh lớn tôi đang vẽ trong ảnh chụp gởi Nam, Trời và Đất..." (2/1).

Rồi e-mail ngày 6 tháng giêng của anh đã khiến chúng tôi vô cùng mừng rỡ : "Hai ngày nay tuyết vần còn rơi. Tôi vẫn lui cui vẽ..."

Anh Cường ơi, vậy là anh "đã lui cui vẽ", anh ĐÃ VẼ...

Điều đó mới ý nghĩa làm sao. Khi có hai người bạn cùng có chung một sứ mệnh với đời, nếu một người vì lý do nào đó phải bỏ việc dở dang, thì người còn lại sẽ phải thay thế bạn mình, làm gấp đôi công việc, kham luôn phần việc bạn mình còn bỏ dở.

Anh Cường ơi, rồi anh sẽ vẽ, không chỉ bằng nét bút của anh, mà cả bằng nét bút của bạn mình, bằng nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đang đốt cháy trong anh, thôi thúc anh.

Chẳng thể nào khác, khi anh Chỉ đã thật sự và vĩnh viễn rời xa chúng ta. May mà trước khi đi, anh còn kịp để lại cho chúng ta bức tranh vẽ con Dê, để nó thay anh cùng chúng ta đón chào mùa xuân mới.

Ở nơi anh đến, có lẽ người bạn hiền Trịnh Công Sơn, để đón chào anh, đang ôm đàn nghêu ngao hát những câu ca đã vĩnh viễn đi vào lòng người : "Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi... Lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày.".

Một chiều hồn nhiên tóc trắng, cho cỏ cây lô nhô ngoài vườn cùng ngậm ngùi chít vành khăn trắng tiếc thương ...



12 / 2002 - 3 / 2003
Phạm thị Anh Nga

-------------------------------------------------------------------
* Những hàng cuối cùng của bài viết này kết thúc đúng thời gian chuẩn bị một trăm ngày mất của hoạ sĩ Bửu Chỉ. Hôm qua tôi nhận được e-mail của anh Đinh Cường. Anh viết: "...Cái tranh Trời và Đất thì từ hôm Bửu Chỉ mất vẫn để vậy. Có thể trở thành "Hommage à Bửu Chỉ" khi vẽ tiếp..."

Cuộc tình ảo

Thuỳ tin rằng như vậy là Phan đã không còn yêu cô nữa. Cái thư cuối cùng của Phan, một mail viết dỡ, kết thúc bằng hai chữ “anh chán”. Không một dấu chấm câu nào sau đó, như thể máy tự động send thư đi như rất nhiều lần khác. Trước đây, cứ mỗi lần như thế, liền sau đó Phan lại gửi tiếp một mail khác: “Thư tự nhiên chạy chẳng hiểu vì sao...”, “Anh viết tiếp đây...”. Nhưng không, đã gần hai tháng trôi qua, đã tám tuần. Phan đã không viết thêm gì nữa hết, cũng chẳng trả lời câu Thuỳ hỏi: “Anh có thể giải thích rõ hơn không, anh viết gì em chẳng hiểu gì hết”. Hộp thư mở ra ở trang Inbox lần nào cũng như lần nào, không có hàng nào mới hiện ra ở dạng Bold, dấu hiệu của thư mới nhận được. Ngoại trừ một lần duy nhất, và đó chỉ là thư của Dịch vụ mail thông báo khả năng dung chứa của hộp thư đã được cải tiến, có thể lưu giữ được nhiều mail hơn trước.

Địa chỉ @ Thuỳ dành cho riêng Phan không hề dùng để liên lạc với một ai khác. Ngày trước, khi Dịch vụ mail lưu ý hộp thư đã gần đầy, Thuỳ đã phải tạo ra một địa chỉ mới để nhận những thư mới của Phan. Chỉ vì Thuỳ không muốn xoá đi những thư cũ, những thư Phan gửi cho Thuỳ và Thuỳ gửi cho Phan, trong nhiều năm liền. Vậy là, ngoài địa chỉ đầu tiên, Thuỳ đã tạo ra thêm một địa chỉ mới, dù tất cả nội dung thư đi thư lại giữa Phan và Thuỳ trước nay đều đã được Thuỳ chép lưu cẩn thận trong một file dạng word trong máy.

Nhưng bây giờ Thuỳ hoàn toàn không cần thêm chỗ trong hộp thư để chứa mail nữa. Như đã kể ở trên, Thuỳ hiểu là giờ đây Phan không còn yêu cô như trước, không viết cho cô nữa. Và Thuỳ cảm thấy cô cũng chẳng còn lý do gì để níu kéo. Một khi anh đã thú nhận “anh chán”... Và bởi anh là người bắt đầu, và xem như chính anh cũng là người làm công việc kết thúc. Vâng, kết thúc ở Thuỳ một mảnh đời. Một câu chuyện ảo. Một cuộc tình ảo.

Và như để góp phần minh chứng cho sự kết thúc thêm phần thuyết phục, máy tính của Thuỳ lại đột ngột gặp sự cố, mất hết mọi dữ liệu, trong đó có file lưu giữ những thư đi thư lại của Phan và Thuỳ. Mọi nỗ lực trước nay để “cụ thể hoá”, “vật chất hoá” phần nào câu chuyện mộng tưởng, hư ảo, câu chuyện a còng, câu chuyện biến chuyển ngày ngày trên mạng, vậy là bỗng chốc đã ra mây khói. Và địa chỉ đầu tiên Thuỳ dùng để liên lạc với Phan, cách đây mấy hôm Thuỳ thử vào lại, cũng đã bị xoá sạch mọi thư từ trong đó, với lý do là đã lâu chủ nhân không sử dụng địa chỉ. Dẫu nhớ mang máng là lần cuối Thuỳ mở nó cách đây chỉ chừng vài tuần, không đến 90 ngày như Dịch vụ mail thông báo, Thuỳ vẫn không mảy may tức giận hay la ó phản ứng gì. Chỉ hơi cau mày ngạc nhiên, và bình thản chấp nhận. Với nỗi buồn càng thấm đẫm. Nhưng ích gì nữa đâu.

Phan thân yêu, dẫu sao em cũng nên cám ơn Phan về những bài học cuộc đời Phan đã ưu ái riêng dạy cho em, về những chiều kích sâu thẳm trong em, về tình yêu kỳ diệu, trăm năm mới có một, về cuộc sống đa chiều em đã trải nghiệm với Phan. Không có Phan, e rằng cho đến cuối đời, ngần ấy thứ với em vẫn là cõi lạ xa. Em, con chim nhút nhát thời thơ bé chỉ biết quẩn quanh trong lồng son ba mạ, và lớn lên, lại kín cổng cao tường trong những khuôn rào phong kín của đất Huế. Phan như một cơn gió lạ đã len vào, lay thức ở em một cõi đời riêng... Nhưng giờ đây, khi cả Phan và em, chẳng còn ai màng đến chuyện “cám ơn” những phương tiện thông tin cực kỳ hiện đại và nhanh chóng đã giúp chúng ta nối lại khoảng cách, chuyển tải yêu thương, thì trách Phan phỏng có ích gì, dù khi nghĩ đến, nước mắt đọng trên bờ mi em cứ chực trào ra. Dường như kết thúc là một điều gì đó rất hợp với qui luật tự nhiên Phan ạ, như em vẫn thường nói, và Phan thì cứ gạt phăng đi. Rằng mọi thứ trên đời, chẳng giới hạn, đều có một khởi đầu và một kết thúc.
Cũng đã có một ngày xưa...

***
Vâng, một ngày xưa.

... A lô, anh đây, Phan đây. Đừng ngạc nhiên, chẳng có vấn đề gì đâu. Anh gọi để thăm em thôi. Ừ, anh khoẻ. Anh đi nghỉ hè về rồi. Anh cũng tiếc, đã chẳng gặp em. Anh cũng mong gặp em chứ. Nhưng đừng nói đến chuyện có hay không có duyên với nhau, khiến anh lại hốt hoảng. Chẳng hữu duyên thiên lý vô duyên đối diện cái gì hết. Đừng nghĩ ngợi lẩn thẩn. Thỉnh thoảng anh lại gọi cho em. Không, chẳng có lý do nào đặc biệt cả. Thôi em nhé, lần khác anh lại gọi cho em...

... Em thương yêu, đây là điạ chỉ không phổ biến, em đừng cho ai khác. Chỉ là thế giới của riêng anh. Để thỉnh thoảng khi anh buồn, anh nhớ thì gửi thư thăm em thôi. Anh cũng sẽ thỉnh thoảng gọi điện về cho em. Không có gì em phải lo ngại cả. Không có gì là tội lỗi cả. Hãy tin anh. Anh hứa sẽ chăm lo, bảo vệ em. Trọn đời...

... Em không nên chơi hoa quỳnh. Người có cha mẹ lớn tuổi thì không nên chơi quỳnh, điều này em nên biết. Thương yêu em lắm, anh mới dặn như vậy chứ. Em tin lời anh đi...

... Em hỏi anh tại sao. Anh cũng không biết giải thích với em ra sao. Nhưng hỏi “tại sao” tức là nó cũng đã “sao” rồi. Với anh, em chính là hình ảnh quê hương, là xứ Huế thân thương, là nỗi nhớ. Và có thể, cũng vì với em anh như một giấc mơ, một cõi xa nào đó, khác với cuộc sống bình thường lặng lẽ của em. Em không phải làm gì cả. Cứ sống tự nhiên, trọn vẹn cuộc đời của em. Có những việc mà mỗi người sống trên đời đều có quyền có cho riêng mình, mà dường như ai cũng có, và không nhất thiết phải cho ai khác biết, bởi không phải ai ai cũng hiểu được...

... Em biết không, trước đây anh vẫn chưa hình dung em như thế nào. Cao gầy thấp béo, dáng đi dáng đứng ra sao. Nhưng nhận được hình em vừa gửi, anh vui vì thấy em đúng như anh đã đoán chừng trong trí tưởng tượng của anh. Anh cũng thích cái áo dài em mặc trong hình. Một màu lụa trắng đơn sơ và rất Huế. Em biết không, càng ngày anh càng say mê em. Cám ơn cuộc đời cuối cùng đã cho anh và em quen nhau, gắn bó với nhau, dù thực ra thì chúng ta chưa hề gặp nhau ngoài đời thật...

... Không, em không có lỗi gì hết, em có quyền sống của riêng em, chúng ta không tước đoạt cái gì của ai cả. Tình yêu không phải bao giờ cũng hợp tình hợp cảnh, không phải bao giờ cũng có thể lớn tiếng công bố để được xã hội thừa nhận. Nhưng anh sẽ yêu em trọn đời, trọn những ngày cuối đời của anh. Em có đồng ý không ? Sẽ trọn đời với anh, chứ không dễ dàng chia tay như bao người yêu nhau trên cuộc đời này. Hoàn cảnh của chúng ta thì làm thế nào khác hơn được. Anh yêu em...

... Em đồng ý yêu anh nhé. Trọn đời em nhé. Anh không có ai khác ngoài em đâu. Bây giờ chỉ với em là anh còn có thể xúc động, xúc động cả tâm hồn, cả thể xác, trong từng góc cạnh nhỏ. Anh yêu em, yêu cuộc sống của em, những trách nhiệm và công việc của em, những người sống quanh em, có bắt em phải từ bỏ cái gì đâu. Chỉ yêu em và muốn em yêu anh thôi. Sao em vẫn không thừa nhận tình cảm em dành cho anh là tình yêu. Không là tình yêu thì nó còn có thể là tình gì nữa, em bảo em nhớ anh đêm ngày kia mà. Em tình tứ đến thế kia mà. Nhưng thôi, một ngày nào đó em sẽ hiểu...

... Em hỏi nếu chúng ta thực sự yêu nhau, và nếu tình yêu đó là chính đáng, thì tại sao không thể nói ra với những người khác. Em thấy không, em yêu anh nhưng em đâu có bớt thương yêu những người khác quanh em, đâu có bỏ bê trách nhiệm và vẫn chăm lo cho gia đình em. Không ai mất mát gì cả. Mà trái lại, chúng ta còn cố gắng sống trọn vẹn hơn với mọi người. Vậy thì còn gì có thể tốt đẹp hơn thế...

... Không anh không cần gì thêm nữa. Như thế này đã là kỳ diệu, khó tin lắm rồi em ạ. Hơn nữa chắc anh chết mất. Em ơi, sao càng ngày anh càng si mê em thế này...

... Anh biết thỉnh thoảng em lại trở về với những băn khoăn cố hữu. Nhưng em không nên so sánh, cũng đừng bắt anh phải chọn lựa. Cũng đừng bỏ anh. Em bỏ anh, chắc anh chết mất. Em phải tin anh, anh không dối lừa, loè loẹt gì với em đâu. Đừng bỏ anh, đừng bao giờ bỏ anh. Riêng anh, anh yêu em trọn đời. Anh yêu em. Anh yêu em. Yêu em...

... A lô, có chuyện gì em kể cho anh nghe đi. Em cứ nói đi, anh có thể hiểu mà. Ừ, anh không ép buộc gì em đâu. Chỉ nói chuyện thế này thôi anh cũng hạnh phúc lắm rồi. Chỉ cần nghe tiếng của em, chỉ cần nghe em nói, cảm thấy có em bên kia. Em hiểu không, em có biết là em có quyền lực rất lớn đối với anh không ?...

... A lô, sao hôm nay nghe giọng em buồn vậy. Sao hôm nay em không huyên thuyên tía lia như mọi lần. Không anh không buồn em đâu. Lần khác em vui hơn, anh sẽ gọi lại, sẽ nói chuyện lâu hơn...

... Em đúng là con người có bản chất bi quan, như anh đã bao lần nói. Em hay mang mặc cảm tội lỗi, hay tự dày vò. Những việc đau buồn dồn dập đến với em, không thể nào là do em yêu anh, là em đang trả giá, đang bị trừng phạt. Chẳng có chút quan hệ nào hết. Chỉ em là tự làm khổ chính mình thôi. Anh yêu em...

... Anh phải nói như thế nào nữa để em hiểu. Anh chỉ muốn em sống trọn vẹn cuộc đời của em, tận hưởng quyền tự do thực sự của em. Anh yêu em, muốn cùng em sống cuộc đời đó, là cuộc đời thật, chứ không hư ảo, không tưởng tượng như em nói. Anh yêu em. Anh yêu em...

***
Tất cả những mail của anh về sau vẫn thường kết thúc bằng “Anh yêu em”. Cho đến một ngày...

Có thể với thời gian, những nguồn dưỡng chất để nuôi nấng tình yêu hoang tưởng đã dần vơi cạn. Cũng có thể anh đã ngộ ra là con người Thuỳ quá đỗi bình thường, thậm chí tầm thường, thô thiển, không ngang tầm cao anh tưởng, chẳng đáng để anh nhớ anh thương. Cũng có thể bây giờ anh đã nghĩ như Thuỳ, rằng tất tất mọi việc và không có ngoại lệ, phải có một bắt đầu và một kết thúc. Huống hồ là một câu chuyện ảo. Và cũng có thể mọi thứ đó đều là những lý do dồn dập đến khiến rồi một ngày kia “anh chán”... Thuỳ không muốn biết, cũng chẳng muốn tự hỏi xem liệu anh có đang bắt đầu chìm ngập trong một mối vấn vương nào khác hay không...

Với Thuỳ tất cả dường như đã vỡ tan, đã bốc hơi, bay biến, đã thực sự được trả về với cõi trời mênh mông hư ảo. Có phải không Phan, anh như ánh sao toả sáng trước sự khâm phục của muôn loài, trong một phút bất chợt nào đó anh nhặt được một hòn cuội nhỏ, tưởng đâu là một vì sao khuya bé bỏng, hoá ra em chỉ là sỏi đá vô tri.

Nhưng có khi chẳng còn gì để gợi nhớ như thế này lại tốt cho em Phan ạ. Không còn file chép lại những mail ngày nào, không còn hộp thư có những lá thư ban đầu. Rồi ít lâu nữa, hộp thư thứ hai cũng sẽ không còn, khi em cố gắng không mở nó trong một thời gian lâu lâu. Và mọi việc sẽ tự khắc được sắp xếp gọn gàng, qui củ, hợp qui luật, hợp với khuôn phép cuộc đời thôi phải không Phan. Sẽ chỉ còn lại dư âm xa của một cuộc tình ảo, khung trong một không gian ảo và một thời gian ảo. Có thực chăng, là vết tích trong tim em, một nhát chém ngọt và sâu, mà những năm những tháng những ngày rồi sẽ dần hồi giúp em khoả lấp.

6 / 2005

«Vị ân nhân được tôn kính...» (Jean-Claude Guillebaud)


Jean-Claude Guillebaud là một nhà báo, nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm suốt đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên – Trở về Việt Nam” (1993) được viết sau chuyến đi Việt Nam của ông từ Nam chí Bắc năm 1992, được giải thưởng Astrolabe–Nhà văn du hành (Astrolabe-Écrivains voyageurs), NXB Points tải bản 2006. Hiện Guillebaud đang công tác tại nhà xuất bản Seuil (Paris).



Đôi khi chúng tôi không nói gì. Nhiều phút trôi qua mà chẳng có lấy một cuộc đối thoại nào, một lời nhận xét nào. Đó là những đoạn dừng giữa chuyến đi, những ngoặc đơn đóng lại trong thinh lặng. Gần Cam Ranh, chúng tôi đã đi theo một con đường mòn bằng đất mọc đầy cỏ gà. Người ta nhìn thấy phía xa vịnh «chiến lược» và căn cứ đường biển nơi xưa kia có những chiếc trực thăng Mỹ rì rầm. Sau đó, vũng này đã được trao tặng cho hải quân Liên Xô, và những vệ tinh của Lầu Năm Góc theo dõi những quy hoạch của nó gần như từng xăng ti mét một. Nơi đó ngày nay người ta nuôi tôm để xuất khẩu. Những ruộng muối ngày xưa lại hoạt động trở lại. Những chiếc đài ra đa cũ của Nga đang gỉ sét dưới những cây cọ. Mặt đất đầy cát, gió thổi từ đó lên những cơn xoáy toả mùi hăng hắc. Gần lối vào chính của căn cứ, giữa những căn nhà tồi tàn của ngôi làng, vài người Nga chậm bước đang đi loăng quăng tìm bia lạnh. Đã mấy tháng nay cựu Hồng binh không ngừng cuốn chiếu. Không kèn không trống. Người ta không tốn công bao nhiêu cho những người Liên xô [1] bại trận này. Có thể đất nước Việt Nam không ưa những kẻ thua cuộc chăng? Tháng 4 năm 1956, khi những đoàn quân cuối cùng của Pháp rời Việt Nam, em trai của tổng thống Ngô Đình Diệm (một người kịch liệt chống cộng) đã nói lời «vĩnh biệt» này trong nhật ký của mình: «Thế là đội quân viễn chinh Pháp đã cuốn xéo cho đến muôn đời [...]. Nước mắt khăng khăng quyết không rơi.»

Mai đây người ta sẽ viết gì về những người «anh em» Xô viết đang quay về đất nước của họ?

***
Khi lựa chọn con đường đất đầy cỏ này, chúng tôi đã đi về hướng ngược lại với căn cứ Cam Ranh, hướng đâm về ngọn núi của dãy An Nam. Trời đột ngột nóng bức. Cánh đồng như bị nung chảy dưới nắng chiều, chân trời trống trải. Không một tiếng động, không một động tĩnh gì của trâu bò hay trẻ con, không một tiếng chim hót... Chúng tôi đi bộ không lâu. Ở kia, cách con đường cái quan xưa hai bước, một tấm biển gắn bên dưới một bậc thang bằng đất leo trên một sườn dốc báo hiệu đã đến ngôi mộ của John Émile Yersin. Chúng tôi leo lên đó.

Một cột tháp ngắn bằng đá và xi măng màu đất son, một bậc thang bốn mặt và vài cây hương mới tàn trong một vỏ đồ hộp. Từ khoảnh đất nhô cao dùng để thờ đó, người ta có cái nhìn bao quát từ vịnh cho đến tận những ngôi nhà đầu tiên của Nha Trang. Sự nghèo nàn của vùng đất, tình trạng tương đối cách ly và những dấu hiệu nhỏ - những hình vẽ nguệch ngoạc có ghi ngày tháng trên cột tháp, những dấu chân trên sỏi - dù sao chăng nữa cũng chứng minh nơi này thường xuyên được thăm viếng, tất cả cùng góp phần làm nảy sinh một cảm xúc mà chúng tôi đã không chuẩn bị để có. Cách xa những con lộ và nhà ga, ở bên rìa một vùng đồng bằng đã bị thuốc súng và thép vang rền của chiến tranh phá nát hơn bất kỳ vùng đồng bằng nào, ngôi mộ đơn độc này, khuất trong đám cỏ dại mọc cao, mà mưa gió đã phủ lên một lớp dạn dày, vẫn là nó như từ một nửa thế kỷ nay. Người ta mường tượng được là nó thường bị các vụ nổ phủ khói, các đội tuần tra vây hãm, các phi đội bay trên cao, và có thể bị hơi thở của các trận cháy liếm phải. Là lăng tẩm bị bỏ quên trong trận mưa đạn, người gác canh mù loà nhưng vẫn nguyên vẹn khi tất cả đã ngưng lại...

AlexandreYersin, cùng với Alexandre de Rhodes, không chút nghi ngờ gì, là người Pháp được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam. Sinh ngày 22-9-1963 ở Lavaux, Thuỵ Sĩ, mất vào tháng 3-1943 tại Nha Trang, ông đã khám phá ra độc tố bệnh bạch hầu, thực hiện việc thừa nhận cao nguyên Lang Biang, nơi Đà Lạt được thành lập năm 1893, cách ly vi rút bệnh dịch hạch năm 1894 và nhất là đã đưa vào Việt Nam cây cao su và cây canh ki na. Là hình ảnh biểu trưng, tách biệt khỏi đám đông quân thuộc địa chuyên sáng lập truyền thuyết, xây trường và và mang đến những điều hối tiếc.

Trên phiến đá ở ngôi mộ của ông chỉ khắc một hàng chữ, bằng tiếng Pháp, nhưng được viết từ một bàn tay Việt Nam: «Vị ân nhân và người nhân đạo. Được nhân dân Việt Nam tôn kính».

Chúng tôi trở xuống phía xe ô tô và không nói gì. Những chữ trên mộ chí không thôi khiến tôi bứt rứt. Nhất là chữ «ân nhân». Phải chăng đó là tấm lòng thành kính cảm phục? Là lẽ công bằng giao trả cho một «sự nghiệp khai hoá»? Tất nhiên là thế, nhưng điều tôi nhân thấy ở những chữ đó không chỉ có ngần ấy. Đúng hơn, là một một câu hỏi tìm thấy dọc đường. Đất nước Việt Nam, đất nước đã thoát khỏi biết bao cuộc tàn sát, kẻ «thành-bại» của bán thế kỷ sắp mất hút theo thời đại của nó, đã nuốt hết mọi tủi nhục khi chìa tay cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho Ngân hàng Thế giới và cho Washington, đất nước đó đang xô chúng ta vào một trạng thái bất ổn lạ thường. Phải chăng chúng ta không sắp sửa lao vào một chủ nghĩa xét lại mang tính thực dân vẫn chưa tự xưng tên mình ra ? Phải chăng những thất bại ở nơi chốn xa xôi kia, những hỗn loạn của các xứ sở kia, những sự phá sản dồn dập kia cứ hệt như ngần ấy phần tô nổi và minh chứng nghịch trong bán cầu Nam (đã) không làm sống lại một chủ nghĩa chiến thắng của phương Tây được hồi sinh trở lại từ những người đã chết? Phải chăng phương Bắc, kẻ đồng thời chiến thắng cả phương Nam lẫn phương Đông, không quay trở lại với những thái độ ngạo nghễ xa xưa?

Thế ư! Thế là chúng ta tin chắc mình là những kẻ duy nhất được ký thác về của cải, về tự do, về những bí mật âm u của sự phồn vinh. Với «gánh nặng của người da trắng» mới mẻ này, chính xác là chúng ta sẽ làm gì? Đằng sau điệp khúc về nhân quyền và «nhiệm vụ can thiệp», một diễn từ khác đang được giấu kín nay mai sẽ minh chứng cho một sự phong kín siêu vũ trang trong thiên đường của những kẻ giàu có, thậm chí là một vài cuộc «trừng phạt» giáng xuống các quốc gia lúc nhúc dân và mất phẩm chất kia, những kẻ «hoang dã mới» kia. (Năm 1991, chiến tranh vùng Vịnh cũng là thế: là một cây gậy giương ra dưới mũi phương Nam.)

Ngôi mộ của Alexandre Yersin ra dấu với chúng tôi, và cùng với nó là toàn bộ đất nước Việt Nam. Để có được một «vị ân nhân được dân tộc Việt Nam tôn kính», phải có bao nhiêu vụ cướp bóc, bao nhiêu chiếc đầu rơi và bao nhiêu cuộc nổi dậy chìm trong những mây mù thuốc súng? Để có được một «sự nghiệp Pháp quốc» tại Đông Dương, phải có bao nhiêu tội ác? Tất cả những điều đó đã «lỗi thời» và gần như đã được Lịch Sử ân xá. Người ta còn nói rằng các nạn nhân của chúng, từ dưới đáy sâu tai hoạ, suýt chút nữa là đã từ bỏ những cuộc nổi dậy trước đây của mình.

Có thể mai kia chúng ta sẽ phải nói kiểu ngược thời. Và không thôi nhắc đi nhắc lại mãi những gì đã qua. Chủ nghĩa thực dân là một tấm áo nhiều mảnh với ánh sáng và tội ác đan xen, một bài diễn văn khai sáng bị thực tiễn làm biến chất, một bước tiến của Lịch Sử bị các hố rác làm thối rữa, một sự tiến bộ bao quát che khuất sự cướp bóc và nạn buôn người. Liệu rồi đây những bóng tối đó có được bôi xoá hay không trước ánh sáng mà một Alexandre John Émile Yersin, vị ân nhân được tôn kính, là hiện thân duy nhất?
***
Tôi nghĩ đến câu hỏi đang chờ đợi chúng tôi ở Paris. «Ở kia còn lại gì của thời Pháp thuộc?»
Ôi, giá như chỉ còn lại có mỗi kỷ niệm ấy...

-----
Ghi chú:
[1] Tiếng Việt trong nguyên bản
Nguyên bản tiếng Pháp: «Vénéré bienfaiteur...» (La Colline des Anges - Retour au Vietnam), JC Guillebaud, Seuil 1992)
Người dịch và giới thiệu: Phạm Thị Anh Nga

Báo NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN số 127(336) / 24.9.2004

Portrait (par Đinh Cường)



(Tầm Viên 22.6.2006)

-

Jeanne d'Arc 1960-1973

Jeanne d'Arc 1960-1973
classes de 7e et de 8e

classe de 4e

ENS de Hué 1973-1977

ENS de Hué 1973-1977
4e année

Université de Rouen 1996-1997

Université de Rouen 1996-1997
salle de documentation DESCILAC - le 9 janvier 1997

dernier cours de méthodologie 1997

Université de Rouen 1999-2000

Université de Rouen 1999-2000
soutenance de thèse

avec Anh Hai

... et les copains copines

ENS de Hué 2003-2004

ENS de Hué 2003-2004

Université d'Hélouan - Égypte 2004

Université d'Hélouan - Égypte 2004

Bangkok 2006

Bangkok 2006

ESLE de Hué 2006-2007

ESLE de Hué 2006-2007

Siem Reap 2007

Siem Reap 2007
anciens Rouennais

chez Minh 2008

chez Minh 2008

Pagode Từ Lâm (Hué) 2008

Pagode Từ Lâm (Hué) 2008

Vientiane 2008

Vientiane 2008
Avenue Lane Xang

Université Nationale du Laos

Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) 2008

Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) 2008


đăng quang 2008

đăng quang 2008

kỷ sửu 2009

kỷ sửu 2009
đền huyền trân

trúc lâm thiền viện

chez phan thuận an 2009

chez phan thuận an 2009

dans le soleil et dans le vent

thả thơ 2009

thả thơ 2009
trên sông Hương

tiến vào chung kết

Fai Fo 2009

Fai Fo 2009

canh dần 2010

canh dần 2010
chùa Từ Lâm

phật tử Quảng Viên

phật tử Quảng Viên
chùa Tịnh Giác

Huý nhật lần 7 của em Minh (5.10.2011 - 9.9 ÂL)

Huý nhật lần 7 của em Minh (5.10.2011 - 9.9 ÂL)
Nam-Nga Tuấn-Hà Phượng Chôm Bư Nin Hề + Tùng Tú