Ce portfolio se veut un objet de recherche et de découverte, un lieu de partage et d’échanges entre « alter » et « ego ». Tous les commentaires seront donc les bienvenus. J’en remercie par avance leurs auteurs.

« Sẽ có một ngày trên hành trình đến với những cánh đồng Abydos của Osiris dương trần tục luỵ em bỏ lại đàng sau cả những thân sơ giận thương yêu ghét... »


Chers collègues,


Après une assez longue période de tâtonnements, voici enfin le fruit de mes efforts continus.

J’ai le grand plaisir de mettre à votre disposition un e-portfolio que j’ai conçu comme outil d’accompagnement à mon auto-formation, et en tant qu’enseignante-chercheur-formateur (ou ... chercheuse-formatrice ?), ceci dans le but de favoriser des échanges et contacts avec des collègues d’ici et d’ailleurs.

J’aurais aimé un outil plus approprié (pour plus de facilité dans la conception et dans la lecture), mais je n’en ai pas trouvé. Je compte donc sur votre compréhension.

Si les jeunes collègues y trouvent quelque utilité pour leurs réflexions, ou pour alimenter et enrichir leur vécu professionnel, ce sera à ma très grande joie, et j’en serai bien honorée.

Je compte aussi sur vos remarques, suggestions et propositions (qui seront ajoutées en fin de chaque article ou en bas de la page) pour pouvoir améliorer cet outil. Vous pourriez de même me les communiquer par email (phamthi.anhnga@yahoo.fr).

Avec mes sincères remerciements,

Et Bonne Année du Buffle !


Anh Nga

Affichage des articles dont le libellé est 7. RAPPORT - NHẬN XÉT PHẢN BIỆN (ego). Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est 7. RAPPORT - NHẬN XÉT PHẢN BIỆN (ego). Afficher tous les articles

jeudi 27 juin 2024

Chữ Duyên quanh một hoàng mai

Tôi có cơ duyên gặp và quen cặp đôi Tịnh Thy và Minh Tự từ nhiều năm nay . Từ bao lâu rồi thì quả thật tôi không còn nhớ nữa , nhưng đủ để tôi thiệt lòng quý mến , trân trọng và cảm phục cặp đôi này về nhiều mặt . Không chỉ về tài năng , phẩm hạnh , mà cả về những biểu hiện tinh tế , khiêm cung và vô cùng ý nghĩa . Trong ứng xử với nhau . Và với người khác .

Ảnh : Minh Tự

Đến dự buổi ra mắt sách của Minh Tự sáng chủ nhật ngày 2 tháng 6 vừa qua , tâm trạng tôi cứ nao nức bồn chồn . Cuốn sách với nhan đề “Trước nhà có cây hoàng mai” tái bản với một bản dịch tiếng Anh , bìa được trình bày rất đẹp và sang trọng . Màu nền lục rêu pastel nhắc tôi nhớ đến họa sĩ Đinh Cường , bởi đây là một trong những màu yêu thích của ông thuở sinh thời , mà khi thực hiện cuốn tuyển tập nhân một năm ngày ông ra đi , tôi đã chọn để làm nền cho bookmark của cuốn sách , với bức tranh cuối cùng chưa kịp đặt tên của ông về một ngôi giáo đường cổ tuyệt đẹp . 

 

Trước nhà có cây hoàng mai” nghe như một tiếng reo vui , hớn hở , một khám phá bất ngờ khi đột nhiên tung cánh cửa nhà và phát hiện một cây mai vàng trước hiên nhà mình . Nhưng đó chỉ là với tôi , và cũng chỉ mới tuyền là mơ ước , bởi tôi chưa có cái duyên đó với hoàng mai . Với Minh Tự , cây hoàng mai trước nhà là thực , là thành quả của những kỳ công tìm tòi , vun rồng , chăm bẵm . Đúng với tinh thần “Giấc mơ Huế” đã được Nguyên Chủ tịch Thành phố Huế Phan Ngọc Thọ chia sẻ trong bức thư chúc Tết năm 2020 của ông , đã khiển cư dân Huế ( trong đó có tôi ) rất cảm động và tâm đắc . Tôi vẫn còn nhớ dịp Ngày Nhà giáo cũng năm đó , Đại Học Huế mời gặp mặt và có tặng mỗi người đến dự cuốn Nội san Đại Học Huế , trong số đó có bài viết “Về Giấc mơ Huế” của Võ Thị Quỳnh , bạn cùng khóa thời sinh viên Đại học Sư Phạm với tôi nhưng khác ngành , và phu nhân của nhà văn - nhà thơ Nguyễn Quang Hà . Chị là một người đa tài , là họa sĩ thực hiện nhiều bức tranh kết từ lá khô tuyệt đẹp . Thế là tôi chụp ảnh trang đầu của bài viết đó và gửi ngay cho Quỳnh . Cái Duyên về hoàng mai và về giấc mơ hoàng mai cứ thế mà nhân rộng , lan tỏa thêm .

Một cái Duyên khác khi đến dự ra mắt sách , là buổi ra mắt đó được tổ chức tại Thư viên Tổng hợp Tình Thừa Thiên - Huế , nơi lưu trữ nhiều tư liệu xưa quý hiếm . Mới đây thôi , theo đề nghị của phu nhân nhà nghiên cứu Đặng Tiến, là chị Minh Nguyệt , để bổ sung vào cuốn sách sắp in của ông , “Văn , thi pháp & chân dung” , mà sinh thời ông đã bàn bạc và lên kế hoạch với Nhà xuất bản Phụ Nữ nhưng chưa kịp hoàn thành , tôi đã cố gắng chuyển ngữ bài tham luận bằng tiếng Pháp mà ông đã trình bày tại một Hội thảo Quốc tế do Thư viện Quốc Gia Pháp tổ chức vào tháng 3 năm 2004 , và sau đó được in ấn trong cuốn “Cuộc phiêu lưu của văn chương Pháp tại Viễn Á : Trung Hoa , Hàn Quốc , Nhật Bản , Việt Nam” ( NXB You-Feng 2005 ) . Bài viết đề cập đến nhiều tác giả và tác phẩm của văn học Việt Nam , với không ít trích dẫn đã được dịch sang tiếng Pháp . Tôi loay hoay tìm các văn bản gốc để đưa vào cho chính xác , và chị Minh Nguyệt ở Orléans ( Pháp ) cũng bỏ công cùng lục tìm . Cơ duyên đưa đẩy khi chị “cầu cứu” một người hiện ở Hambourg ( Đức ) và người này lại “cầu cứu” một người khác tại Thành phố Hồ Chí Minh , và đó lại là anh Hoàng Dũng . Qua trao đổi và hỏi han thêm , anh Hoàng Dũng cho biết tư liệu nhờ tìm được là ở trong một thư viện ở Huế . Và cuối cùng , tôi được biết đó chính là Thư viện Tổng hợp của Tỉnh Thừa Thiên - Huế , nơi diễn ra buổi ra mắt sách của tác giả Minh Tự . Nói theo kiểu người Việt mình , thì trái đất quả thật là tròn , hoặc theo cách của người Pháp , thì thế giới thật là nhỏ bé . Xin cám ơn chữ Duyên đã kết nối Huế , Orléans , Hambourg , Thành phố Hồ Chí Minh và … Huế . 

 

Xa hơn ít nữa , dịp nhà văn Trần Hoài Thư ở Hoa Kỳ thực hiện một số chuyên đề của Tạp chí “Thư Quán Bản Thảo” về Phùng Thăng , ông và họa sĩ Đinh Cường nhờ chúng tôi tìm bản dịch cuốn “Kẻ lạ ở thiên đường” của Simone Weil do Phùng Thăng dịch , và chúng tôi đã tìm thấy chính ở thư viện này . Việc đó được họa sĩ Đinh Cường kể lại như sau :

 

Đọc mấy chữ cuối

câu thơ Trần Vạn Giã

trên blog Phạm Cao Hoàng

vừa lúc nhận mấy trang scan

bản dịch Phùng Thăng

Anh Nga gởi. Anh Nga bắt

Bửu Nam ra thư viện làm

(…)

hai bạn là “quới nhân”

nói như Trần Hoài Thư

đã giúp scan gởi mấy chương

“Kẻ lạ ở thiên đường”

của Simone Weil

(Đinh Cường, “Bếp lửa đại ngàn”)

 

Và thêm một cái Duyên nữa do dòng đời đưa đẩy , liên quan đến bài viết của nhà nghiên cứu Đặng Tiến mà tôi nhận chuyển ngữ , đó là cuốn sách về Huế của tác giả Minh Tự lại được Nhà xuất bản Phụ Nữ đỡ đầu , xuất bản , và buổi ra mắt sách cũng do “Nhà Nữ” đứng ra tổ chức . Nhờ đó tôi có dịp gặp chị Hoa Phượng , Giám đốc của Nhà xuất bản , và cùng nhắc đến cuốn sách chưa kịp hoàn thành và xuất bản như đã được bàn bạc thỏa thuận giữa nhà nghiên cứu Đặng Tiến và Nhà xuất bản .

o            o

o

 

Ảnh : Võ Ca Dao

Lan man như thế có lẽ đã đủ cho những cái Duyên tôi gặp và góp nhặt chung quanh buổi ra mắt sách , bây giờ xin trở lại với tâm điểm chính : tác phẩm “Trước nhà có cây hoàng mai” , và cái Duyên hạnh ngộ được mong chờ nhất . 

 

Tôi chưa được đọc “Trước nhà có cây hoàng mai” ở lần xuất bản trước , nên nay cầm cuốn sách được tái bản trong tay , tôi cảm thấy cái Duyên dù hơi muộn cuối cùng vẫn cứ … duyên , vẫn cứ tràn đầy . Và từ buổi ra mắt sách trở về , tôi tự cho phép mình ngày đêm say sưa theo những trang sách . 

 

Với 36 câu chuyện tự tình , Minh Tự dẫn chúng ta đi thăm khắp các ngóc ngách của Huế , khám phá những nhân vật của Huế , những món ăn của Huế , những vườn hoa , cây trái , các ngôi nhà rường cổ , các lễ hội đặc trưng như Lễ hội Huệ Nam , Hội vật làng Sình , Hội cầu ngư của các làng chài . Những điều thú vị mà ngay người Huế ở Huế cũng chưa chắc đã biết và tỏ tường . Không chỉ được tường thuật in vivo các lễ hội và có cảm giác như đang hiện diện trong khung cảnh đó , trong câu chuyện đó , độc giả còn được cùng Minh Tự tìm đến những người am hiểu , là thợ chuyên nghiệp , chuyên viên , hay các nhà khảo cứu , cả lần mò giở những trang tư liệu cổ xưa để truy tìm , lục vấn nguồn gốc , ý nghĩa của từng tập tục địa phương được lưu truyền từ đời này sang đời khác . Cứ thế , những câu chuyện kể của Minh Tự không chỉ đơn giản là những ghi chép về Huế” mà còn là những tư liệu chuyên sâu giúp người đọc hiểu ngọn ngành những điều diễn ra rất hằng thường ở Huế .

 

Từ đặc tả ngôi nhà vườn An Hiên nguyên là nhà vườn của gia đình bà Tuần Chi , đến phân tích những đặc trưng của các khu vườn Huế , là nhà vườn và cũng là vườn nhà , là “nơi trú ngụ của tâm hồn Huế” , Minh Tự cho người đọc được ngắm nhìn , thưởng ngoạn đa dạng những sắc màu , không gian , ở đó gần như cái gì cũng có . Vườn Huế là nơi có “cái hàng rào bằng chè tàu đặc trưng của vườn Huế”, có “rau mã đề , me đất , lá lốt , cây ớt chỉ thiên , vài bụi sả , dăm ba bụi gừng” , “vài cây hoa phượng , hoa chuối” , “một giàn hoa lý , đôi cây ngọc lan , vài cây mộc lan hay hoa sói” … Ở đó các loại cây không được sắp xếp theo một trật tự hay quy hoạch nào cụ thể . Dường như về tính cách , vườn Huế gần với vườn kiểu Anh , nơi thiên nhiên cây cối được tự do đâm chồi nẩy lộc , lan ra và xen lẫn vào nhau , nặng về “tình” , khác với những ngôi vườn kiểu Pháp , ở đó sự phân chia ranh giới thật sự rạch ròi giữa lối đi và nơi trồng trọt , giữa loại cây này và loại cây khác , nặng về “lý” . Vâng , bởi theo Minh Tự , quy hoạch của vườn Huế , có chăng chỉ là “vườn tạp” , “triết lý sâu xa của vườn Huế” là “cho rằng mọi loài hoa lá đều có quyền dự phần một cách bình đẳng trong không gian thiên nhiên ấy” và rằng “vườn Huế tạo ra cốt để mà chơi” .

 

Cũng về không gian sống , tôi đặc biệt yêu thích những ngôi nhà rường cổ của Huế mà các câu chuyện của Minh Tự đưa độc giả đến thăm và cùng theo dõi biết bao câu chuyện thú vị quanh những con người , những ngôi làng qua bao biến động của thời cuộc và sự bào mòn của thời gian , vẫn gìn giữ được , bảo tồn và phục hồi được , trùng tu được các ngôi nhà rường cổ , với “bộ tràng kỹ” , “chiếc sập gụ” , “chiếc bàn tợ” , “bộ ấm chén trà màu gan gà” . Độc giả không khỏi hào hứng với câu chuyện lạ lùng của nghệ nhân Dương Đình Vinh hay ông “Vinh nhà rường” , người đã hồi hương và “phục sinh” nhiều ngôi nhà rường đã bị “chảy máu” ra những vùng đất khác … 

 

Trở lại với hoàng mai hay mai vàng , hẳn người Huế và người yêu Huế không quên câu chuyện về mai vàng xứ Huế của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng . “Giữa cằn khô , thân mai vươn lên như những cánh tay rắn rỏi . Màu da nâu nâu căng đầy nhựa sống . Không phải hoa mai nào cũng là hoa mai xứ Huế . Cây hoa mai Huế đích thị , là loại hoa mai nở sắc vàng tươi , năm cánh rời và mỏng , mùi hương nhẹ và thoảng . Có lẽ sinh thời chàng cù sĩ Cao Bá Quát bái hoa mai là loại hoa mai này . Năm cánh mỏng lụa là tượng trưng cho năm đức tính của người quân tử . Ngũ thường ấy là nhân , lễ , nghĩa , trí và tín . Người sành chơi hoa mai chỉ chơi hoa mai Huế , và cố chọn cho được một nhành mai Thủy Xuân .[1] Nếu với Nguyễn Xuân Hoàng , người đọc được giải thích ngọn ngành về đặc trưng của hoa mai Huế khác với hoa mai của các vùng đất khác ra sao , thì với Minh Tự , người đọc được hướng dẫn để tìm hiểu về cuộc đời của hoàng mai , của các “lão mai” , cả “cái chết của một lão mai”. 

 

Rồi về nắng mưa của Huế , về hai mùa là “mùa mưa và mùa ít mưa” ( mưa cứ như trong thơ Thanh Hải , “Anh nhé/ Về Huế anh đừng sợ mùa mưa/ dai dẳng/ Bởi vì mưa nên em thương anh năm tháng/ Mưa lâm thâm…” ) , về những cái ăn , cái mặc , cả các phụ kiện và những nghề , những làng nghề liên quan , người đọc cũng được theo chân tác giả tìm tòi khám phá . Và những câu chuyện kể về cuộc sống hằng thường của Huế không cần dày đặc những “mô tê răng rứa” khiên cưỡng , cũng không trau chuốt chắt lọc kén chọn từ ngữ , câu chữ của Minh Tự chỉ tự nhiên như nhiên mà mang nhiều nét duyên bất ngờ và vẫn rất Huế . Ngoài vài từ ngữ rặt Huế khó hiểu được chua thêm cái chú thích ( “ông nên” (tr. 20) ) , văn phong Minh Tự tuy khách quan chính xác theo phong cách “của một người viết báo” như tác giả đã bộc bạch giải trình , vẫn có rải rác và thậm chí đôi chỗ khá nhiều những dấu ấn riêng qua cách dụng ngôn đặc trưng của vùng đất .

 

Một số từ thuộc phương ngữ hay cách nói thông thường của người Huế và các vùng phụ cận dễ dàng đoán ra nghĩa , dựa vào ngữ cảnh hay tình huống : “đường hoàng” (tr. 18) , “tuồng như” (tr. 19 202 203 207 108 214) , “như tuồng là” (tr. 148) , “xắt mỏng” (tr. 39) , “nghêu” (tr. 41) , “chè bắp” (tr. 44) , “chằm nón” (tr. 71) , “đôi ba khi” (tr. 84) , “nhớ như in” (tr. 91 95 157) , “múa thiên cẩu” (tr. 91) , “lặt (rau)” (tr. 98) , “mùng một” (tr. 177) , “cúng đất” (tr. 177) , “phù hộ” (tr. 183 190) , “mưa dầm” (tr. 183) . Một số trường hợp khác khó đoán biết hơn có thể khơi gợi để người đọc hiếu kỳ tìm cách giải mã và khám phá thêm ít nhiều về Huế : “vị chi” (tr. 32) , “cá tràu” (tr. 39) , “khuôn đậu” (tr. 40) , “phố ăn hàng” (tr. 40) , “tôm chấy” (tr. 41) , “xăm” (tr. 41) , “khêu” (tr. 42) , “tao mỡ” (tr. 53) , “sậy” (tr. 63) , “mụ Rớt” (tr. 92) , “nớt ra” (tr. 97) , “khuôn hội” (tr. 184) , “cây sầu đâu” (tr. 213) , “phựt cao” (tr. 213) , “cái đòn” (tr. 215) ... Đặc biệt hơn cả là những từ ngữ mang một ý nghĩa khác hẳn so những từ ngữ tương tự được sử dụng ở một địa phương khác , như “nước lèo” (tr. 42) lại không phải là nước lèo của cư dân các tỉnh phía Nam , hay “ruốc” (tr. 53) khác với ruốc thịt , ruốc cá của các vùng miền khác . 

 

Câu từ chữ nghĩa trải đều trong cuốn sách , tuy tôi đọc bằng mắt nhưng sao tai tôi cứ như nghe thoang thoảng giọng nói như rút ruột tự tình của Minh Tự , trầm có bổng có , nhất là những khúc đoạn đầy tâm tình , đậm chất Huế , ngập tràn tình yêu Huế của một người Huế và yêu Huế . Chưa cần nói đến các chủ điểm được đề cập , các nhân vật , địa danh , tên làng , những nét đặc trưng của cảnh vật , khí hậu , nắng mưa , lễ hội , ẩm thực của Huế , chỉ cần những câu từ như “tuồng như” ( bây giờ thì tuồng như dòng nước đã bị đặc quánh lại ) , “đường hoàng” ( nó thể hiện sự vững chãi và đường hoàng ) , “vị chi” ( vị chi ông đã có tới 68 năm gắn bó với nghề chơi này ) … , tôi vẫn hình dung ra một Minh Tự đang say sưa trút cạn lòng mình , đầy cuốn hút , và tất nhiên tai tôi cứ thoang thoảng nghe âm vang giọng nói rất chi là Huế của tác giả . 

 

o            o

o

Ảnh : Nguyễn Thanh Tùng

Nhân đây tôi cũng mạo muội có một vài suy nghĩ nho nhỏ , mong được lắng nghe và hiện thực hóa .

 

Một . Màu bìa cuốn sách của Minh Tự đầy vẻ trầm tích , vừa thâm u vừa nhẹ nhàng , rất đẹp , rất nên thơ , rất Huế … Trong trao đổi với tác giả và Nhà xuất bản Phụ Nữ ngoài hành lang , chúng tôi vừa trầm trồ về màu sắc của bìa sách vừa cùng dự phóng rằng , nếu nối bản , hai chữ “hoàng mai” có lẽ nên vàng hơn một chút, tươi hơn một chút , vừa phù hợp với màu sắc vốn có của hoa mai vàng , vừa tạo nên một điểm nhấn , thay vì vẫn vàng chanh như những hàng chữ khác . Có lẽ khi đó bìa sách sẽ càng trọn vẹn hơn .

 

Ảnh : Võ Ca Dao

Hai . Cuộc sống hằng thường của Huế hiển hiện thật tự nhiên với từng câu chuyện tâm tình của Minh Tự trong “Trước nhà có cây hoàng mai” , và rất tình cờ tôi đã nghe được những câu chuyện đó qua trang web “Phật Pháp Ứng Dụng” dưới dạng Sách nói . Cũng đáng mừng vì có thể nhờ đó những câu chuyện đáng yêu về Huế càng được lan tỏa rộng rãi hơn , nhưng điều khiến tôi băn khoăn đôi chút , thậm chí ngỡ ngàng , là những câu chữ dễ thương “rất Huế” qua một giọng đọc nữ vùng Nam bộ , dù cho đó là một giọng đọc rõ , hay , diễn cảm , vẫn ít nhiều gượng , sượng và nhợt nhạt đi . Mong sao sẽ có một phiên bản sách nói khác , với một giọng đọc đúng là của người Huế , nam hay nữ cũng được . Bởi giọng Huế cũng là một nét bản sắc riêng của vùng đất , và ở đây lại rất phù hợp với các câu chữ của tác giả . Và tại sao không , là giọng đọc của chính tác giả Minh Tự . Vâng , tại sao không nhỉ , bởi như thế sẽ là rất rất tuyệt vời . 

 

Ba . Sách được tái bản , sau khi được tác giả bổ sung , chỉnh sửa , hoàn thiện . Không những thế , còn có một phiên bản tiếng Anh của cả cuốn sách .  Cũng cùng màu bìa và những hàng chữ màu vàng chanh . Phiên bản tiếng Anh này rất đáng hoan nghênh , bởi nó có thể là chiếc cầu nối giữa những câu chuyện về Huế với du khách nước ngoài khi đến Huế , thậm chí với cả những người chưa từng đặt chân đến Việt Nam . Nếu hiện nay Anh ngữ đang là ngôn ngữ quốc tế được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu , thì căn cứ vào số lượng người sử dụng các ngôn ngữ trên thế giới , nên chăng tìm cách chuyển ngữ sang cả các tiếng Trung , Đức , Pháp , Nhật , Hàn ? Đặc biệt với Pháp ngữ , là ngôn ngữ lâu nay rất được nước Pháp[2] cũng như Cộng đồng Pháp ngữ OIF trên thế giới[3] quan tâm và đầu tư có hệ thống và hiệu quả . Giao lưu văn hóa , hỗ trợ giáo dục , hội thảo chuyên đề , dịch thuật , in ấn … đều thuộc về những quan tâm hàng đầu của OIF . 

 

Bốn . Nên chăng Tỉnh và Thành phố mạnh dạn và chủ động đầu tư để “Tủ sách Huế” quy tụ được nhiều những đầu sách quý về Huế như “Trước nhà có cây hoàng mai” ? Hoặc sưu tập các bài viết rải rác nhưng có chất lượng và gom lại để in thành tuyển tập theo từng chủ đề . Với những tư liệu nghiên cứu chuyên sâu , hàn lâm , rất cần thiết cho nghiên cứu nhưng kén độc giả , nên chăng tổ chức viết lại dưới dạng bài hoặc sách thu gọn , rút ngắn , với văn phong , câu chữ đơn giản dễ hiểu , vừa tầm với đa số học sinh , thiếu niên hay các độc giả không thuộc giới nghiên cứu . Tại Pháp , từ lâu và ngay từ bậc tiểu học , học sinh , thiếu niên đã có thể “đọc” tác phẩm của Victor Hugo , Maupassant hay Hector Malot và thích thú , nhờ những phiên bản thu gọn , rút ngắn này[4] . Nếu được tổ chức và quy tụ được nhân lực , tài lực , thậm chí kêu gọi được tài trợ , còn có thể chuyển ngữ sang một số ngoại ngữ nhằm quảng bá rộng rãi hơn về văn hóa Huế . 

 

Năm . Cuối cùng , rất mong tác giả Minh Tự không dừng lại ở con số 36 bởi những câu chuyện về Huế , của Huế vẫn còn mong được kể thêm và cùng khám phá thêm dưới ngòi bút của anh . Một cầu Trường Tiền đang mong luôn luôn được gọi đúng tên của mình , là Trường Tiền , mà ngay nhiều người Huế hiện nay , kể cả trong giới trí thức , vẫn vô tư gọi sai . Một bún bò giò heo Huế ngày nay sao thiếu vắng cái sợi bún to vẫn còn thấy cho tô bún bò giò heo Huế ở Thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội mà ngay ở Huế thì hầu như mất tăm, thậm chí các lò bún cũng thôi không còn làm sợi bún to nữa . Rồi những hồi ức còn in đậm của một thời gian khổ khó khăn đói nghèo , không chỉ “củi lúa” như tác giả đã trải nghiệm mà cả củi rơm , củi lá … cũng thành nồi cơm nồi cháo hay ấm nước đun sôi . Hay những gói mè xửng “rẻo” vụn vằn không nhãn hiệu thay vì có hình thù vuông vức đẹp đẽ và dán nhãn , đóng hộp “đường hoàng” . Hoặc nữa là con người Huế , như nhà văn - dịch giả Bửu Ý đã từng thử giải đáp cho câu hỏi “Người Huế , anh là ai ?” . Mỗi góc nhìn , ở mỗi thời điểm riêng , tất sẽ hình thành nên một chân dung với những điểm không trùng lặp . Đặc biệt là phụ nữ Huế , mà sinh thời , trong những câu chuyện đàm đạo , dịp nhà thơ Th. Nh. từ Hoa Kỳ về Huế và tôi có cơ duyên đưa đến gặp ông ở “ngôi nhà của những kẻ lang thang” , nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không ngừng nhắc đi nhắc lại , nhiều lần và say sưa , về cái gọi là “nội lực” của phụ nữ Huế .

 

Tháng 6 / 2024

Phạm thị Anh Nga



[1] Nguyễn Xuân Hoàng , “Mai vàng phố nhỏ” , Cỏ hoa xứ Huế , NXB Trẻ 2004 , tr. 14-15.

[2] Nước Cộng Hòa Pháp có một Bộ chuyên trách về Pháp ngữ.

[3] Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ ( Organisation Internationale de la Francophonie – OIF ) là cộng đồng các quốc gia và vùng lãnh thổ có sử dụng tiếng Pháp , gọi tắt là Cộng đồng Pháp ngữ , được thành lập năm 1970 , quy tụ được 88 quốc gia trên khắp 5 châu lục , bao gồm 54 thành viên chính thức , 7 thành viên liên kết và 27 quan sát viên không chính thức . Việt Nam là một thành viên chính thức của OIF . Văn phòng đại diện của OIF tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ( CREFAP ) , được thành lập năm 1993 , có trụ sở đặt ở Thành phố Hồ Chí Minh .

[4] “Textes en français facile” (Văn bản ở dạng tiếng Pháp dễ đọc).

vendredi 19 janvier 2018

NHẬN XÉT BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN CẤP ĐẠI HỌC HUẾ - đề tài của Trương Hoàng Lê



BẢN NHẬN XÉT BÁO CÁO
 TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN CẤP ĐẠI HỌC HUẾ

Tên đề tài:   Phát triển năng lực diễn ngôn cho sinh viên chuyên ngành tiếng Pháp nhằm nâng cao hiệu quả day-học các môn Nói và Viết theo khung quy chiếu Châu Âu về ngôn ngữ
Mã số:                       DHH 2015-07-18
Người chủ trì:           TS. Trương Hoàng Lê
Đơn vị công tác        Phòng KH.CN & HTQT - Trường ĐH Ngoại Ngữ - ĐH Huế
Họ và tên người phản biện: Phạm Thị Anh Nga
Học hàm, học vị:                 PGS.TS.
Đơn vị công tác:  
NỘI DUNG NHẬN XÉT:
I.                   Về mục tiêu đề tài:
Đây là một đề tài thuộc lĩnh vực giao thoa giữa Lý thuyết ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học ứng dụng và Giáo học pháp ngoại ngữ, đặt trọng tâm vào năng lực diễn ngôn của sinh viên Việt Nam học tiếng Pháp. Mục tiêu được xác định là đánh giá việc dạy và học các kỹ năng của năng lực diễn ngôn ở các học phần Nói và Viết ở khoa Tiếng Pháp Đại học Ngoại Ngữ Huế. đánh giá năng lực diễn ngôn của sinh viên trong Nói và Viết, và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao ý thức và hiệu quả của giảng viên và sinh viên trong dạy-học và rèn luyện năng lực diễn ngôn để các học phần Nói và Viết đạt hiệu quả tốt nhất.
II.               Về hình thức, tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
- Về hình thức:
Ngoài Phần mở đầu và kết luận, báo cáo tổng kết[1] bao gồm 3 chương với độ dài được phân bố hợp lý. Ngoài ra, còn có đầy đủ các nội dung sau: Danh mục bảng, Danh mục biểu đồ, Danh mục các chữ viết tắt, Thông tin kết quả nghiên cứu (tiếng Việt và tiếng Anh), Tài liệu tham khảo, Phụ lục.
Phần Phụ lục khá phong phú với 17 nội dung, tuy nhiên việc đánh số là 1 – 2 – 2.1 --> 2.8, 3.1 --> 3.7 là chưa hợp lý. Các tư liệu được xếp vào sau đó (bìa khóa luận đã hướng dẫn thành công, các bài báo và công trình đã công bố…) lẽ ra cũng cần được liệt kê trong Mục lục hay Danh mục phụ lục, thay vì đưa vào mà không nêu ra ở bất kỳ danh mục nào.
Nhìn chung, báo cáo tổng kết được trình bày rõ ràng, súc tích, kết quả điều tra thăm dò có kèm bảng, biểu đồ in màu công phu, rõ ràng, đẹp. Tiếc là một số biểu đồ chưa thật thuyết phục: ở các biểu đồ 2.10 (tr.52), 2.20 (tr.60), 2.21 (tr.61), lẽ ra các kết quả phải để riêng, vì sao lại nối liền thành đường biểu diễn? Ngoài ra, diễn đạt trong báo cáo tổng kết ở một số chỗ chưa suôn sẻ (do thiếu từ nối, đặc biệt là các giới từ), sử dụng xen kẽ tiếng Pháp trong câu tiếng Việt, có chỗ dịch chưa thoát, chưa sát nghĩa. Cũng có khá nhiều sơ xuất về chính tả hay lỗi đánh máy, chấm câu, trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Pháp.
- Về tư liệu:
Tư liệu tham khảo về mặt lý thuyết cũng như ngữ liệu được chọn để nghiên cứu nhìn chung là khá đủ, phù hợp với đề tài nghiên cứu và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên tôi hơi băn khoăn là vì sao nghiên cứu về các giáo trình Le Nouveau Taxi ! (LNT) 2 và 3, tác giả đã tham khảo sách học sinh, sách bài tập trong khi đó sách giáo viên lại không đề cập đến. Thông thường, sách giáo viên chính là nơi tập trung các hướng dẫn sư phạm dành cho nguời dạy, đề cập rõ ràng nhất các góc tiếp cận của giáo trình về ngôn ngữ, văn hóa cũng như nghiệp vụ, đóng vai trò hỗ trợ rất lớn đối với người dạy trong việc sử dụng giáo trình.
- Về phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu của tác giả là thỏa đáng, phù hợp với đề tài và vấn đề được chọn để nghiên cứu.
III.            Về nội dung và kết quả nghiên cứu:
Việc phân bố nội dung thành 3 chương của đề tài là hợp lý. Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo tổng kết gồm: Chương 1 - Cơ sở lý luận (18 trang), Chương 2 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận (36 trang), Chương 3 - Một số đề xuất phát triển năng lực diễn ngôn (14 trang). Chương 1 đề cập đến các khái niệm lý thuyết như diễn ngôn, văn bản, hồi chiếu, năng lực diễn ngôn, lĩnh hội và giảng dạy năng lực diễn ngôn. Chương 2 gồm 3 phần: (1) Giới thiệu giáo trình LNT, (2) Kết quả điều tra thăm dò sinh viên về việc học và rèn luyện năng lực diễn ngôn, và (3) Kết quả điều tra thăm dò giảng viên về việc dạy năng lực diễn ngôn. Chương 3 đưa ra một số đề xuất đối với người dạy và người học, các tài liệu hay bài tập bổ trợ, và phương pháp dạy đọc hiểu tích cực.
Nhìn chung, tác giả đề tài nắm vững vấn đề và triển khai nghiên cứu từng bước một cách hiệu quả, có tính thuyết phục. Ở chương 2, liên quan đến việc điều tra thăm dò sinh viên và giảng viên về việc học, rèn luyện và giảng dạy năng lực diễn ngôn, tác giả không chỉ đơn thuần nêu kết quả mà đã trình bày và mô tả các bảng câu hỏi dành cho sinh viên và giảng viên một cách sinh động, cũng như đưa ra những nhận xét thỏa đáng về các kết quả thu thập được. Những đề xuất ở chương 3 cũng có tính thuyết phục và hoàn toàn khả thi.

IV.             Những đề xuất của phản biện:
Sau đây là một số điểm cần chỉnh sửa để góp phần hoàn thiện báo cáo tổng kết.
1. Về hình thức:
1.1. Diễn đạt trong tiếng Việt cần thêm từ nối, đặc biệt là các giới từ.
-   1.1. “Một số định nghĩa (thêm: về các) khái niệm cơ bản liên quan (thêm: đến) diễn ngôn
-   1.3.1. “liên quan (thêm: đến) hồi chiếu”
-   2.2.1. “Đánh giá của sinh viên về ảnh hưởng của hoạt động (HĐ) Nghe và Đọc trên lớp đối với (thêm: sự/việc) phát triển năng lực diễn ngôn (NLDN) khi Nói và Viết của sinh viên”
-   2.3.6. “(thêm: Sự/Vai trò) Hỗ trợ của giảng viên trong việc tự rèn luyện NLDN của sinh viên”
-   (tr.10) “những đặc điểm (thêm: của) năng lực diễn ngôn”
-   (tr.82) “Trong giảng dạy các kỹ năng giao tiếp (thêm: bằng) ngoại ngữ, đặc biệt kỹ năng diễn đạt Nói và Viết, người dạy cần giúp người học nhận thức và ý thức về các kiến thức và năng lực liên quan (thêm: đến việc) sử dụng ngôn ngữ cấp độ trên câu”
-   (tr.83) “Sinh viên phải ý thức hơn (thêm: về) tầm quan trọng (thêm: của) NLDN đối với (thêm: việc) cải thiện, nâng cao kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ…”
1.2. Bổ sung cho những câu hay cụm bị thiếu từ
-   (tr.1) “ngôn ngữ cấu trúc” --> ngôn ngữ học cấu trúc
-   (tr.2) “bắt đầu những 1970” --> … những năm …
-   (tr.10) “thầy cô vui lòng biết…” --> … cho biết …
-   (tr.10) “ Thuận lợi và khó khăn nào? ” (câu thiếu động từ)
-   (tr.11) “phân tích văn bản (discours)” -->  analyse du discours
-   (tr.66) “Ngữ pháp văn” --> … văn bản
-   (tr.35) “Dạng bài tập kết hợp ngữ pháp câu và ngữ pháp văn bản nói hay ngữ pháp hội thoại.” (câu thiếu động từ)
-   F. (thêm : de) Saussure (tr.10, 13), thậm chí “F. Sausure” (tr.13)
1.3. Bỏ những từ thừa, gây tối nghĩa:
-   (tr.1) công cuộc cách mạng công nghiệp ® cuộc cách mạng công nghiệp
-   (tr.82) “…để phân tích nhiều loại diễn ngôn khác nhau và giảng dạy sinh viên tốt hơn về NLDN hơn nữa
1.4. Trường hợp xen kẽ tiếng Pháp và tiếng Việt
-   (tr.32) Chương 2, “… một leçon”, (tr.30) “3 cuốn Méthode de français”, “Sách bài tập LNT 2 gồm 36 leçon tương ứng 36 leçon của sách học LNT 2”: trong câu tiếng Việt, nên sử dụng “Bài học” thay vì dùng “Leçon” hay “Bài” (“Bài”: không rõ nghĩa, vì có thể hiểu là bài tập, bài khóa…), “đơn vị bài học” (ĐVBH) thay cho “Unité”, và “giáo trình” thay cho “Méthode de français”.
-   (tr.70) Từ “Source”: cần dịch.
-   (tr.17-18-19…) Các thí dụ trong tiếng Pháp: cần dịch ra tiếng Việt.
-   (tr.19) “Đối với câu hỏi giờ, thay vì trả lời giờ cụ thể người ta có thể trả lời « Le voisin vient de partir ou Le facteur est en bas ou encore Le journal télévisé commence tout juste ».”: Cần tách riêng thí dụ và câu dẫn giải, và dịch “ou”, “ou encore”.
-   (p.22) “Adjectifs démonstratifs”, “adjectifs possessifs” được dịch là tính từ chỉ định, tính từ sở hữu. Thực chất đó là những déterminants (có chức năng tương đương với mạo từ) chứ không phải là adjectifs (tính từ), cần ghi chú thêm.
1.5. Diễn đạt lại cho rõ hơn, tránh tối nghĩa, tránh dùng từ chưa đúng:
-   2.3. Kết quả điều tra việc giảng dạy năng lực diễn ngôn của giảng viên (tiêu đề có nội dung tối nghĩa)
-   (Thông tin kết quả nghiên cứu, tr.2) “Hơn nữa (--> Ngoài ra), chúng tôi cũng đề xuất …”
-   (tr. 35) “Tuy nhiên” (để nối liền 2 ý bổ sung cho nhau là không ổn)
-   (tr.10) “Những kiến thức lý thuyết này làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng và phân tích kết quả…” (tối nghĩa)
-   (tr.12) “theo khía cạnh (???) tương tác”
-   (tr.1) “lĩnh hạt” (--> lĩnh vực / địa hạt)
-   (tr.82) “các yếu tố ngoại ngôn ngữ” (--> … ngoại ngôn / ngoài ngôn ngữ)
-   (tr.23) “từ les gamins, les femmes…” (--> từ gamins, femmes…)
-   (tr.51) “bảng 2.11” (--> biểu đồ 2.11, tr.54?)
-   (tr.76) “Theo phương pháp dạy đọc hiểu này, quy trình đọc ở lớp gồm có 3 giai đoạn : giai đoạn trước khi đọc (pré-lecture), giai đoạn đọc (lecture) và giai đoạn sau khi đọc (post-lecture)”. Thật ra, trong bất cứ một phương pháp dạy đọc hiểu nào cũng có 3 giai đoạn. Viết thế này dễ đưa đến ngộ nhận chỉ phương pháp đọc hiểu tích cực mới có. Nên diễn đạt là: “Theo phương pháp dạy đọc hiểu này, 3 giai đoạn (trước, trong và sau) của quy trình đọc có những đặc trưng sau…”.
1.6. Viết hoa hay không hoa cho đúng và thống nhất:
-   tài liệu nghe và tài liệu đọc (2.3.3., tr.56), diễn đạt Nói và Viết (2.3.4., tr.58), Đánh già năng lực diễn ngôn khi Nói và Viết của sinh viên Khoa tiếng Pháp (tr.6), …
-   Viết đúng tên giáo trình --> Le Nouveau Taxi ! (viết hoa và có khoảng hở trước “!”)
-   (tr.13) “Khái niệm ‘Diễn ngôn’, ‘văn bản’ ”
1.7. Dịch cho thoát, cho chính xác, tránh tối nghĩa:
-   (tr.13, 1.1.1.) “… và không (--> chứ không) đơn thuần là …” (“et non…” : chứ không đơn thuần là …)
-   (tr.13, 1.1.2.) từ “mais” quan trọng lại không dịch
-   (tr.14) “yếu tố liên diễn ngôn” (interdiscursivité) (--> tính liên diễn ngôn)
-   (tr.16) cụm “d’un genre” bị sót, không được dịch
-   (tr.16) cả câu “Un texte est donc …” dịch chưa ổn
-   (tr.18) “discours” dịch là “văn bản”?
-   (tr.22) “articles indéfinis” dịch là “mạo từ bất định” (--> mạo từ không xác định)
-   (tr.26) cần xem lại cách dịch kỹ năng diễn đạt linh hoạt và kỹ năng triển khai chủ đề theo CECRL, đặc biệt ở cấp độ A2. Ngoài ra, cũng cần bổ sung vào Phụ lục các nội dung của CECRL được dịch trong báo cáo tông kết.
-   (tr.30) “livre de l’élève” dịch là “cuốn sách chính” hay “sách học” (--> “sách học sinh”, như các sách giáo khoa của VN vẫn gọi)
-   (tr.53) “trình độ ban đầu (niveau requis)” (“trình độ ban đầu” là “niveau initial”, còn “niveau requis” là trình độ yêu cầu phải có ở một thời điểm nào đó, có thể là ban đầu hoặc 1 mốc thời gian khác)
-   (tr.70) từ “Source” cần dịch
-   (tr.72) “reformulations” không phải là “các cách diễn giải”
-   (tr.74) “câu giao tiếp mẫu (manières de dire)”: dịch là “câu giao tiếp mẫu” là không ổn, nên diễn đạt khác đi
1.8. Chỉnh cho đúng và thống nhất về chính tả và thuật ngữ:
-   (tr.2) T. Van Dik --> T. Van Dijk
-   (tr.13) R. Jacobson --> R. Jakobson
-   (tr.2) “Anglô-saxon”, (tr.15) “Anglô-sắc-xông”
-   (tr.14) “phân tích” / “phân tách” (ngay trong sơ đồ ở bảng 1)
-   (tr.17) “trường phái Praha (école de Praque)” --> … Prague
-   (tr.18) “aprè” --> après
-   (tr.22) “nom noyeau” (--> nom noyau)
-   (p.71) “Le forêts tropciales”, “cathedrale”
-   (tr.53) “giáo tình”
-   (tr.19) “hàm ngôn” / “hàm ý”
-   (tr.73) “hành động lời nói” / (tr.31) “hành ngôn” tương ứng với “actes de langage” (cần thống nhất thuật ngữ)
1.9. Bổ sung cho các biểu đồ:
-   Một số biểu đồ mất chữ phía trên và dưới, hoặc thiếu nội dung: 2.5.2. (tr. 47), 2.13 (tr.56), 2.14 (tr.57), 2.15 (tr.57),
-   Biểu đồ 2.20 (tr.60) nên có tiêu đề là “Các loại BT…” (thay vì “Giới thiệu thêm…”)
-   Biểu đồ 2.10 (tr.52), 2.20 (tr.60), 2.21 (tr.61) không thuyết phục, vì sao nối liền thành đường biểu diễn?
1.10. Một số chi tiết khác
-   Chỉnh về trình bày lề, các khoảng hở (thừa, thiếu), các chấm câu (thừa, thiếu), ngoặc kép… chưa chuẩn.
-   Chỉnh kích cỡ chữ (trích dẫn tr.15)
-   Tiêu đề 2.1.1.2.1.: nên chuyển thành “a” và trình bày tiêu đề nổi bật hơn.
-   (tr.30-31) 2.1. Khi giới thiệu Cấu trúc các bài học, các đơn vị bài học của Giáo trình LNT2 và LNT3 nên dùng cách chụp màn hình (capture d’écran) để giới thiệu.
-   Đặc biệt cần lưu ý về nguyên tắc các khoảng hở trước các dấu chấm đôi (espaces insécables trước “:”, “;”, “!”, “?”, trước và sau ngoặc kép) đặc trưng của tiếng Pháp, và khi cắt giữa từ đưa xuống dòng để nối (tr.68): “eng-lobante”, “parti-elle” --> “englo-bante”, “par-tielle”.
2. Về nội dung:
2.1. Thiếu logic, cần chỉnh sửa:
-   (tr.14) “Văn bản (les textes) … được xem là một phát ngôn hoàn chỉnh” (số nhiều (les textes) sao lại là “một phát ngôn”?)
-   (tr.55) “Hơn 90% giảng viên đánh giá BT Nói và Viết của LNT2 và BT Viết của LNT3 ở mức đạt trở lên.” (quên và sót BT Nói của LNT3?)
-   (đầu báo cáo tổng kết) “Danh mục các chữ viết tắt” (nên thay “từ” bằng “từ ngữ”)
2.2. Một số chi tiết, nhận định, phân tích thiếu thuyết phục, cần xem lại:
-   (tr.42-43) Trong chương trình học các học phần Thực hành tiếng, có các bậc DELF A1.1, A2.1, A2.2, B1,1, …, vì sao không có bậc A1.2?
-   (tr.71) “Complétez le texte ci-dessous avec des  anaphores suivantes  qui renvoient  au référent le Cambodge et les marqueurs discursifs suivants:…”.
Ở đây có 2 vấn đề : (1) “anaphores” chỉ là khi các từ đã được dùng trong câu, chứ các từ được liệt kê đó vẫn riêng lẻ, chưa vào trong câu thì không thể gọi là “anaphores” được. Nên viết rõ là “mots servant d’anaphores” – (2) marqueurs discursifs nào? (không thấy nêu).
-   (tr.36): “Activité 6: Associez les phrases. (…) Bài tập giúp sinh viên có khả năng đặt câu khuyên đúng ngữ pháp (ngữ pháp câu) và đúng tình huống  (ngữ pháp hội thoại-năng lực diễn ngôn).”.
Bài tập này không có gì là “giúp sinh viên có khả năng đặt câu khuyên đúng ngữ pháp (ngữ pháp câu) và đúng tình huống (ngữ pháp hội thoại-năng lực diễn ngôn)”. Nó chỉ giúp SV nhận diện và ghép những câu tương thích cho sẵn, chứ không đặt câu, cũng không liên quan gì đến “dạng động từ (forme verbale) thích hợp” như tác giả đã viết.
-   (tr.37) “Activité 2: Conseils et obligations. Choisissez la bonne réponse. (…) Bài tập nhằm giúp sinh viên sử dụng (ngữ pháp câu) và học được các câu khuyên mẫu và cách sử dụng câu khuyên đúng tình huống (rèn luyện năng lực diễn ngôn).”
Ở đây cũng thế, bài tập chỉ giúp SV nhận diện chứ không sử dụng. Đây chỉ là bước đầu trong quá trình học là nhận diện, để ghi nhớ và sau đó mới sử dụng.
-   (tr.41) “Bước 2: Các hoạt động ở mục Grammaire và Entraînez-vous (…) Giải thích và hệ thống hóa kiến thức ngữ pháp và luyện tập ứng dụng ngữ pháp và từ vựng qua các bài tập cấu trúc kết hợp bài tập ngữ pháp văn bản, học đặt câu có tính giao tiếp, ứng dụng cao./ Phương pháp giảng dạy: Phương pháp diễn giải/ tường minh (méthode explicite) và phương pháp suy diễn (méthode déductive) kết hợp phương pháp phỏng theo và lặp lại (méthode imitative et méthode répétitive)”.
Có thật đây là bài tập cấu trúc, phương pháp diễn giải/tường minh, phương pháp phỏng theo và lặp lại hay không? Đó là những phương pháp mà ngay đường hướng giao tiếp cũng phê phán, không tuân theo, và thay bằng ngữ pháp tiềm ẩn, để người học tự khám phá, ý thức và rèn luyện (grammaire implicite et conceptualisée). Huống hồ là dạy-học theo hướng tiếp cận hành động thì càng không. Đặc biệt, có đúng bài tập ở đây là bài tập cấu trúc hay không, hay chỉ là bài tập về hình thái-cú pháp mà người học đóng vai trò chủ động?
-   (tr.34) “Phần bài tập ngữ pháp, giáo trình sử dụng một số dạng bài tập cấu trúc (exercices structuraux) theo phương pháp nghe-nói (méthode audio-orale) của những năm 60 và phương pháp SGAV (méthode structuro-globale audiovisuelle) của những năm 70 của thế ký 20.”
Có đúng là bài tập cấu trúc, phương pháp nghe-nói, phương pháp SGAV?
-   Trong kết luận (tr.82), có câu: “Phương pháp giảng dạy diễn giải (enseignement explicite) cũng cần được chú trọng, phương pháp này giúp người học nắm vững có hệ thống những lý thuyết về các kỹ năng tạo diễn ngôn như …”.
Cần xem lại ý này, và liên hệ với nhận xét đối với trang 41 ở trên.
3. Về phương pháp nghiên cứu:
-   Nếu được thì nên tham khảo thêm sách giáo viên của LNT 2 và 3, để tiếp cận với những ý đồ sư phạm mà các tác giả gửi gắm vào trong giáo trình.
-   Trong mô tả năng lực diễn ngôn các cấp độ CECR, nên sử dụng bản mới nhất thay vì dùng bản đã cũ (2000). Ở bản 2001 (cũng ở các trang 96-97-98), cập nhật hơn, không thấy nêu khả năng diễn đạt chính xác (précision).

V.                Đánh giá của phản biện:
            - Tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài đáp ứng đúng nhu cầu thực tiễn và thiết thực trong dạy và học thực hành tiếng Pháp của thầy và trò khoa Tiếng Pháp, liên quan đến năng lực diễn ngôn.
            - Tính khoa học:
Đề tài đảm bảo tính khoa học, được thực hiện nghiêm túc, đáng tin cậy. Một vài chi tiết cần bổ sung, chỉnh sửa nhưng nhìn chung là có tính thuyết phục cao.
            - Khả năng ứng dụng vào thực tiễn:
Hoàn toàn có khả năng ứng dụng vào thực tiễn.
            - Về hiệu quả kinh tế, giáo dục:
Tuy việc áp dụng vào dạy và học đòi hỏi giảng viên và sinh viên phải đầu tư thời gian và công sức, nhưng hiệu quả là cao và xứng đáng với sự đầu tư đó, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, giúp thầy trò thực sự yêu thích và làm chủ việc dạy và học.

Đề nghị đưa ra Hội đồng để nghiệm thu.
Xếp loại: Tốt.

                                                                                  Huế, ngày         tháng      năm 2017
            Xác nhận của cơ quan                                                  Người phản biện
            (Ký tên và đóng dấu)                                                           (Ký tên)
                                                                           Phạm thị Anh Nga

 Câu hỏi thêm:
Câu hỏi 1.
Tiêu đề phần 1.4.3 (tr.29). của báo cáo tổng kết là “Giảng dạy năng lực diễn ngôn theo tiếp cận hành động (approche actionnelle)”. Được biết, trong tiếp cận hành động, có bao gồm cả việc dạy-học nhắm đến dự án, thúc đẩy người học hành động như những tác nhân xã hội và cùng thực hiện những nhiệm vụ cụ thể (Dans une approche actionnelle, la méthode intègre la pédagogie de projet qui incite les élèves à agir comme des acteurs sociaux réalisant des tâches concrètes.)
Trong phân tích, triển khai nghiên cứu cũng như những đề xuất của mình, tác giả có quan tâm đến khía cạnh tiếp cận hành động này hay không, thể hiện như thế nào? Hay chỉ giới hạn ở các mục tiêu giao tiếp?
Câu hỏi 2.
Phân tích và nghiên cứu về giáo trình Le Nouveau Taxi 2 và 3, tác giả hoàn toàn không đề cập đến sách giáo viên. Xin cho biết tác giả chủ tâm lựa chọn một cách có ý thức như thế hay do thiếu sót? Nếu chủ tâm thì vì sao?




[1] (không có Bản tóm tắt)

Jeanne d'Arc 1960-1973

Jeanne d'Arc 1960-1973
classes de 7e et de 8e

classe de 4e

ENS de Hué 1973-1977

ENS de Hué 1973-1977
4e année

Université de Rouen 1996-1997

Université de Rouen 1996-1997
salle de documentation DESCILAC - le 9 janvier 1997

dernier cours de méthodologie 1997

Université de Rouen 1999-2000

Université de Rouen 1999-2000
soutenance de thèse

avec Anh Hai

... et les copains copines

ENS de Hué 2003-2004

ENS de Hué 2003-2004

Université d'Hélouan - Égypte 2004

Université d'Hélouan - Égypte 2004

Bangkok 2006

Bangkok 2006

ESLE de Hué 2006-2007

ESLE de Hué 2006-2007

Siem Reap 2007

Siem Reap 2007
anciens Rouennais

chez Minh 2008

chez Minh 2008

Pagode Từ Lâm (Hué) 2008

Pagode Từ Lâm (Hué) 2008

Vientiane 2008

Vientiane 2008
Avenue Lane Xang

Université Nationale du Laos

Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) 2008

Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) 2008


đăng quang 2008

đăng quang 2008

kỷ sửu 2009

kỷ sửu 2009
đền huyền trân

trúc lâm thiền viện

chez phan thuận an 2009

chez phan thuận an 2009

dans le soleil et dans le vent

thả thơ 2009

thả thơ 2009
trên sông Hương

tiến vào chung kết

Fai Fo 2009

Fai Fo 2009

canh dần 2010

canh dần 2010
chùa Từ Lâm

phật tử Quảng Viên

phật tử Quảng Viên
chùa Tịnh Giác

Huý nhật lần 7 của em Minh (5.10.2011 - 9.9 ÂL)

Huý nhật lần 7 của em Minh (5.10.2011 - 9.9 ÂL)
Nam-Nga Tuấn-Hà Phượng Chôm Bư Nin Hề + Tùng Tú